Đổi thay ở thôn “3 không”
Ở Bản Giàng, thôn xa nhất của xã Pa Cheo, tỉnh Lào Cai, câu chuyện giảm nghèo bắt đầu từ những điều tưởng như rất cơ bản: một con đường thuận lợi hơn, một bóng điện sáng ổn định, khả năng tiếp cận thông tin và những điều kiện sinh hoạt thiết yếu.
Bản Giàng có 58 hộ với hơn 280 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Mông. Trước đây, đường vào thôn khó khăn, hiểm trở, nhất là mùa mưa. Người dân quen với việc sử dụng những chiếc máy phát điện nhỏ đặt tại mương dẫn nước. Điện không ổn định, chỉ đủ thắp sáng một vài bóng đèn. Việc sử dụng điện phải tính toán từng giờ: lúc ăn cơm, lúc cho con học bài, khi cần sạc điện thoại hay nạp điện cho đèn pin.
Anh Hầu A Hử, một người dân trong thôn, vẫn nhớ những ngày gia đình chỉ có hai bóng điện nhỏ. Nguồn nước không ổn định nên điện lúc có, lúc không. Vì vậy, khi có chủ trương đầu tư trạm biến áp, người dân Bản Giàng đã chờ đợi suốt gần 4 năm.
    |
 |
| Những mô hình kinh tế hiệu quả mang lại cuộc sống mới cho vùng cao Lào Cai. |
Giờ đây, hệ thống điện lưới quốc gia đang được hoàn thiện để đưa điện đến từng hộ dân. Trong căn nhà còn đơn sơ của gia đình anh Hử, bảng điện đã được lắp đặt, một bóng điện mới cũng được chuẩn bị sẵn. Không ít gia đình trong thôn đã chủ động chuẩn bị cho cuộc sống mới: mua thêm bóng điện, nồi cơm điện; những hộ có điều kiện hơn dự định mua ti vi, tủ lạnh, máy xát gạo, máy xay ngô.
Chủ tịch UBND xã Pa Cheo Lý A Khoa cho biết, Bản Giàng trước đây được gọi là thôn “ba không”: không điện, không đường bê tông, không trạm phát sóng điện thoại di động. Theo tiến độ hiện nay, cuối năm, người dân sẽ có đường bê tông và điện lưới.
Những thay đổi ấy không trực tiếp tạo ra thu nhập ngay lập tức, nhưng tạo nền tảng để người dân tiếp cận tốt hơn với giáo dục, thông tin, sản xuất và các dịch vụ xã hội. Đối với một địa bàn đặc biệt khó khăn, đó chính là những điều kiện quan trọng để giảm nghèo bền vững.
Để người dân có một sinh kế có thể tự đứng vững
Nếu Bản Giàng cho thấy vai trò của hạ tầng thiết yếu thì câu chuyện ở Xả Ván Sử Mẫn Khang, xã Lùng Phình, lại cho thấy một hướng tiếp cận khác: giảm nghèo phải gắn với việc tìm ra sinh kế phù hợp.
Gia đình anh Sùng Seo Ư từng thuộc diện hộ nghèo. Đầu năm 2024, gia đình chuyển sang trồng cây dược liệu. Nhà nước hỗ trợ cây giống, ni lông che và hướng dẫn kỹ thuật; phần việc còn lại thuộc về gia đình anh: chăm sóc, làm cỏ, theo dõi sự phát triển của cây.
Gần 1ha cát cánh, đương quy, bạch truật... đang bén rễ trên đất vùng cao. Với anh Ư, những luống cây ấy không đơn thuần là một mô hình sản xuất được hỗ trợ mà là cơ hội để gia đình tạo dựng một nguồn thu nhập mới.
Thực tế tại thôn Xả Ván Sử Mẫn Khang cho thấy hiệu quả của cách làm này. Thôn có 78 hộ; những năm qua, thay vì chủ yếu trồng ngô, người dân được hướng dẫn phát huy lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng để chuyển sang cây dược liệu. Đến nay, 70% số hộ trong thôn đã thoát nghèo.
Điểm đáng chú ý ở đây là sự thay đổi không bắt đầu bằng việc hỗ trợ một khoản tiền rồi kết thúc, mà bằng việc xác định cây gì phù hợp với đất, với khí hậu và khả năng sản xuất của người dân. Khi sinh kế phù hợp, nguồn lực hỗ trợ có thể tạo ra hiệu quả lâu dài hơn.
Tại Lùng Phình, cách tiếp cận này đang được mở rộng. Xã có 20 thôn, bản với hơn 2.200 hộ, tỷ lệ hộ nghèo còn trên 25,4%. Mục tiêu trong năm nay là giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2% trở lên. Để thực hiện mục tiêu đó, địa phương xác định những hướng phát triển chủ lực gồm cải tạo cây ăn quả, phát triển cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc và rau an toàn ở một số hộ.
Lùng Phình hiện phát triển vùng dược liệu trên 60ha và vùng cây ăn quả ôn đới khoảng 800ha. Cùng với mở rộng diện tích, địa phương chú trọng nâng chất lượng sản phẩm và tìm thêm hướng tiêu thụ, trong đó có phát triển du lịch nông nghiệp.
Phó Chủ tịch UBND xã Lùng Phình Hà Đức Thành cho biết, địa phương xác định rõ các hướng sinh kế chủ lực để tập trung nguồn lực. Cách làm này giúp hình thành những vùng sản xuất hàng hóa, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm, nâng thu nhập và tạo nền tảng giảm nghèo bền vững.
Sau hợp nhất, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên 13.256,92km², dân số gần 1,8 triệu người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 60%; toàn tỉnh còn 54 xã đặc biệt khó khăn. Cuối năm 2025, toàn tỉnh còn 23 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 20% đến dưới 40%. Một số địa bàn có tỷ lệ cao như Dền Sáng 41,46%, Trạm Tấu 47,49%, Nậm Có 55,27%, Tà Xí Láng 61,12%.
Đáng chú ý, khi áp dụng chuẩn nghèo mới giai đoạn 2026-2030, năm 2026 tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh được xác định khoảng 19%, tương đương gần 77.000 hộ; hộ cận nghèo khoảng 7,5%, tương đương 30.000 hộ. Điều đó cho thấy giảm nghèo không phải một đích đến đạt được một lần, mà là quá trình phải liên tục điều chỉnh chính sách, phương thức hỗ trợ và cách tổ chức sản xuất.
Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 của Lào Cai là giảm nghèo đa chiều bình quân 2,5-3%/năm; ít nhất 30% số xã nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo và 62% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Trong năm 2026, tỉnh Lào Cai phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 1,5% trở lên, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm từ 2,25% trở lên. Đây là mục tiêu quan trọng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trên địa bàn tỉnh.
Để đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh sẽ tập trung triển khai nhiều giải pháp trọng tâm. Trước hết là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong công tác giảm nghèo. Đồng thời, các địa phương sẽ rà soát chính xác danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều, xác định rõ nguyên nhân nghèo để có giải pháp hỗ trợ phù hợp với từng hộ gia đình.
Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng hỗ trợ người dân phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập thông qua đào tạo nghề, giải quyết việc làm và phát triển sản xuất. Năm 2026, tỉnh phấn đấu đào tạo nghề cho khoảng 3.000 người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, đồng thời tư vấn, giới thiệu việc làm cho khoảng 12.000 lao động, tạo điều kiện để người dân có việc làm ổn định và từng bước cải thiện cuộc sống.
Các chương trình hỗ trợ tín dụng ưu đãi cũng tiếp tục được triển khai nhằm giúp hộ nghèo và hộ cận nghèo có điều kiện vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Dự kiến trong năm 2026 sẽ có khoảng 10.000 hộ được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập.