Năm 1982, khi đó tôi đang chỉ huy một đại đội bộ binh. Đơn vị tôi nằm trong đội hình sư đoàn quân tình nguyện Việt Nam giúp bạn tại khu vực tỉnh Xiêm Riệp – Căm Pu Chia. Nhiệm vụ chính của đại đội là bảo vệ Sở chỉ huy trung đoàn, ngăn chặn từ xa không cho địch đánh vào Thị xã và sân bay Xiêm Riệp.
Một sáng tháng 5, khi vừa hoàn thành đợt hành quân truy quét tàn quân địch trở về, tôi nhận được lệnh của đồng chí Tiểu đoàn trưởng, yêu cầu ngày mai đúng 13 giờ có mặt tại Trung đoàn bộ để nhận nhiệm vụ.
Tranh thủ ngủ một giấc lấy lại sức khoẻ sau khi đã rã rời vì hành quân truy quét, tôi gọi đồng chí đại đội phó lên, hội ý chớp nhoáng giao lại việc chỉ huy đơn vị khi tôi đi vắng. Sáng sớm hôm sau, tôi cùng với đồng chí liên lạc đại đội vội vã lên đường cho kịp buổi làm việc vào đầu giờ chiều tại Sở chỉ huy trung đoàn.
Tiếng là nằm trong đội hình trung đoàn, nhưng đại đội tôi là đơn vị bảo vệ vòng ngoài, xa nhất của Trung đoàn. Đi bộ cắt rừng cũng mất bốn, năm tiếng đồng hồ mới đến được Sở chỉ huy. Đường rừng cây cối rậm rạp, khó đi lại, luôn phải căng mắt đề phòng có tàn quân Pôn Pốt ẩn lấp rình rập bắn lén, nên đến quá trưa hai anh em mới vào được Sở chỉ huy Trung đoàn.
Trực ban dẫn cậu liên lạc vào nghỉ tại trung đội vệ binh, còn tôi đến gặp Phó trung đoàn trưởng chính trị (lúc đó không còn chế độ chính ủy, chỉ có Phó trung đoàn trưởng chính trị giúp việc Trung đoàn trưởng).
Tiếp đón tôi là một ông già cao nhòng, mặt lấm chấm rỗ, nhưng có đôi mắt rất sáng và linh hoạt. Vị chỉ huy này tôi đã vài ba lần tiếp xúc tại các hội nghị tập huấn chính trị, tính ông khó đăm đăm nhưng được cái ăn nói khúc chiết trôi chảy, không rườm rà. Khác với các lần gặp trước, lần này ông xởi lởi và bắt tay tôi trước.
Ông hỏi tôi: “Sao khỏe không? Thế nào mà chưa bắt được mấy thằng Pôn Pốt hôm trước pháo kích vào sân bay?” Tôi đỏ mặt, gãi tai nói lí nhí: “Báo cáo Thủ trưởng! Em đã làm hết cách nhưng bọn này tinh quái lắm, nó chuyển hướng hoạt động liên tục, mấy bữa trước đi lùng sục cả tuần không thấy dấu vết gì!”
Ông cười cười, rồi nói: “Trên này Ban chỉ huy Trung đoàn đã nghe báo cáo của tiểu đoàn, đại đội cậu khá lắm, chỉ thiếu điều là chưa tóm được thằng Pôn Pốt nào mà thôi. Nhìn chung là hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng thôi, từ nay công việc chỉ huy đại đội để lại đấy cho cậu Công (Phó chỉ huy về chính trị đại đội tôi), cậu về nhận nhiệm vụ ở Viện Kiểm sát quân sự!”
- Thủ trưởng ơi, không được đâu ạ! Em vừa bé con lại chậm chạp, võ nghệ không biết làm Kiểm sát quân sự thế nào được! Tôi hốt hoảng kêu lên.
- Cậu nhầm rồi, Kiểm sát quân sự ở đây là làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cá nhân, đơn vị, chứ đâu phải làm công việc sự vụ như cậu tưởng. Rồi bằng vốn hiểu biết của mình, ông giải thích cho tôi hàng loạt khái niệm mới. Nào là Kiểm sát quân sự khác xa với Kiểm soát quân sự, “sát” với “soát” giống nhau thế nào được? Nào là chỉ tiến hành giải quyết công việc theo các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, của quân đội mà thôi… Tôi nghe chẳng hiểu biết là bao, chỉ lờ mờ nhận thức được đó là việc làm khác hẳn với các chiến sỹ Kiểm soát quân sự như tôi thường thấy, chuyên đeo băng đỏ, kiểm tra xe quân sự chạy trên đường, bắt lính lang thang đảo ngũ trên các bến tàu, bến xe rồi giải tán các đám đông gây rối… mà theo như Phó trung đoàn trưởng, đó là công việc sự vụ tuân theo mệnh lệnh của người chỉ huy ở đơn vị cơ sở. Sau khi giảng giải, ông kết luận: “Đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cấp trên đã lựa chọn và điều động, cậu phải chấp hành nghiêm chỉnh, từ nay đến cuối tuần bàn giao đại đội để có mặt tại đơn vị mới đúng thời gian!”.
Việc bàn giao của tôi diễn ra khá chóng vánh, quân số thì có hơn ba chục tay súng còn đủ cả, gạo nước thuốc men của đại đội có quản lý, y tá đại đội lo, hết đến đâu lên bộ phận hậu cần của tiểu đoàn đối chiếu rồi nhận về đến đó. Tôi xách ba lô nhẹ bẫng lên đường nhưng trong lòng đầy ắp nhớ nhung, lưu luyến các chiến sỹ của tôi.
Toàn những khuôn mặt thân quen đã gắn bó cùng tôi trong biết bao trận đánh, giờ đây chia tay mỗi người một ngả, một nhiệm vụ riêng biết bao giờ mới gặp lại? Cậu liên lạc đại đội chạy theo tôi khóc thút thít, tay dúi thêm cho một gói đường thốt nốt và bảo anh đi giữ gìn sức khỏe khi nào có điều kiện nhớ về thăm đơn vị, đừng bao giờ quên đại đội 10 chúng em. Một tháng sau đó, tôi nghe tin đồng chí này hy sinh trong khi làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, tôi lặng người, trong lòng như có muối xát. Tôi đi nhận công tác ở một nơi an toàn còn đại đội ở lại gánh phần hy sinh gian khổ. Chiến tranh vẫn là thế biết làm sao được.
Việc làm đầu tiên của tôi khi nhận nhiệm vụ ở Viện kiểm sát quân sự (VKSQS) là phụ việc vào sổ sách cho một đồng chí văn phòng. Do chữ viết sạch sẽ, dễ coi nên ngoài việc vào sổ sách tổng hợp, tôi còn được cử đi theo một đồng chí Đại úy, Kiểm sát viên khác có tên là Nghĩa, chuyên giúp anh này việc ghi biên bản phúc cung, trích lục hồ của vụ án để anh tham gia xét xử. Anh Nghĩa học Trường Cán bộ kiểm sát Hà nội ra, kiến thức pháp luật rất vững, thấy tôi say mê công việc nên cũng hết lòng chỉ bảo tôi, từ lý thuyết cho đến các thao tác nghiệp vụ kiểm sát.
Ngoài ra, anh còn cho tôi mượn bộ giáo trình Trường Cán bộ kiểm sát Hà Nội để tôi tự nghiên cứu. Tôi rất thích bộ sách này, tối nào cũng chong đèn dầu lên đọc nghiến ngấu, đọc đến tận khuya mới thôi. Sau thấy tôi lan man, sa đà, anh Nghĩa bảo nên tập trung vào phần các tội phạm, đọc kỹ để hiểu rõ từng đặc trưng tội cụ thể để áp dụng thiết thực vào công việc sau này. Đúng như lời chỉ bảo của anh, càng đọc tôi lại càng thấy ham, cảm nhận như tầm nhìn của mình được mở rộng thêm, tôi hạ quyết tâm mỗi tối phải học thuộc từ hai đến ba khái niệm tội phạm.
Vậy là chỉ chừng nửa năm tôi đã đọc gần như thuộc bộ giáo trình và nắm cơ bản phần khái niệm của các loại tội phạm. Nửa năm sau đó, tôi được lãnh đạo đơn vị cử đi học lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát quân sự tại Hà Nội. Lớp này mở cho các cán bộ đã công tác trong ngành kiểm sát quân sự nhưng chưa qua đào tạo.
Chương trình học ở đây được Viện Kiểm sát quân sự Trung ương biên soạn rất tỉ mỉ và khoa học, lại được các thầy có kinh nghiệm như: thầy Trần Tiên, thầy Thụ, thầy Toán, thầy Nguyện… ở VKSQSTW và Phòng Pháp y Tổng cục hậu cần truyền dạy nên kiến thức của tôi lại càng được tích lũy, mở mang thêm rất nhiều.
Về đơn vị, tôi lại tiếp tục theo phụ việc cho anh Nghĩa. Một năm sau đó, thấy tôi đã khá cứng cáp, anh Nghĩa đề xuất với đồng chí Viện trưởng cho tôi được trực tiếp kiểm sát điều tra rồi tham gia xét xử thông khâu luôn. Có niềm vui nào bằng được tự mình thực hiện một công việc mà mình vẫn mơ ước từ trước đến nay?
Tôi bắt tay vào việc ngay với sự say mê hiếm thấy, vừa làm vừa học, tự đúc rút kinh nghiệm qua từng vụ việc, cố gắng vận dụng các kiến thức đã tích lũy được để giải quyết công việc với hiệu quả, chất lượng cao nhất. Ban đầu, công việc được giao là những vụ án đơn giản, ít tình tiết, dần dà tôi được lãnh đạo tin tưởng giao cho cùng các anh trong cơ quan tham gia giải quyết các vụ án lớn và rồi sau đó thì tự mình tham gia kiểm sát điều tra các vụ án nghiêm trọng, các vụ án lớn xảy ra trên địa bàn đơn vị đứng chân.
Vụ án để lại cho tôi ấn tượng nhiều nhất mà đã gần 30 năm trôi qua, tôi vẫn còn nhớ như in. Đấy là vụ Giết người, Đầu hàng địch xảy ra ở một đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn X. đóng tại khu vực Cao Mê Lai sát biên giới với Thái Lan. Thủ phạm tên Th. là một chiến sỹ mới còn rất trẻ, quê thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi xảy ra vụ án, Th là người chấp hành nghiêm kỷ luật đơn vị. Phải một cái tật ở anh này là hay chất vấn cán bộ đại đội, nếu phát hiện sai trái của cấp trên là anh ta đóng góp thẳng thừng, nhiều lúc đến gay gắt.
Điều này khiến cán bộ chỉ huy đơn vị không vui, mất cảm tình với người chiếc sĩ trẻ này. Một đêm, cán bộ đại đội đi kiểm tra, đốc gác, bắt được Th. ôm súng bỏ vị trí gác nằm ngủ, lập tức đơn vị báo động và ngày hôm sau anh này bị lôi ra kiểm điểm nghiêm túc và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức: Tập lại điều lệnh đội ngũ cho thật thuộc, lý do vì Th. “chưa thuộc điều lệnh cho nên mới bỏ gác !!!”
Cái cách tập đội ngũ mà các cán bộ đại đội ở đây áp dụng cho Th. cũng chẳng giống ai, đó là việc Th. phải bỏ dép đi đều bằng chân trần trên một đoạn đường dài khoảng 50 mét đường rừng, trên đường còn có những bụi cây mắc cỡ chưa được phát quang sạch sẽ.
Đại đội trưởng đứng một đầu, Đại đội phó đứng một đầu đường, thứ tự hô: Mốt, hai… mốt hai cho Th. đi nhiều vòng trên đoạn đường ấy. Biết có lỗi nên những vòng đầu Th. cũng ráng đi, nhưng càng về sau gai cây mắc cỡ đâm vào bàn chân càng nhiều khiến Th. đau buốt không còn chịu đựng được nữa.
Ngó vào gian nhà đại đội thấy có khẩu súng AK xếp ngay ngắn trên giá, Th. đảo mắt rất nhanh rồi đột ngột lao vào vớ luôn một khẩu súng lên đạn cái “rốp” chĩa thẳng vào người Đại đội trưởng bóp cò. Ở khoảng cách rất gần như vậy nên người cán bộ đại đội đã không tránh khỏi tử vong, ngã xuống còn bị Th. bồi tiếp mấy viên nữa vào người cho hả giận. Đầu kia đại đội phó thấy vậy vội co cẳng chạy thục mạng. Th. bắn đuổi theo mấy phát nhưng không trúng.
Sau khi giết chết Đại đội trưởng của mình, Th. vác súng chạy vào rừng. Lúc bấy giờ, cả đại đội mới như bừng tỉnh, lịch kịch súng ống đuổi theo, lùng sục để bắt lại nhưng không được. Cán bộ đại đội được bổ sung thay thế ngay sau đó, đơn vị tiếp tục hành quân truy quét bảo vệ mục tiêu.
Mấy tháng sau, trong một trận đánh địch tập kích vào đại đội, đơn vị này dưới sự chỉ huy của người cán bộ mới đã tiêu diệt được một số tên tàn quân Pôn Pốt đồng thời bắt sống tù binh địch. Tên tù binh ấy không ai xa lạ, chính là chiến sĩ Th. của đơn vị hôm nào. Th. lúc đó đang lên cơn sốt rét run cầm cập, trên vai vẫn còn 3 quả đạn B40 được buộc chặt lại bằng dây rừng. Th. được giải về quân pháp sư đoàn ngay sau đó.
Theo Th. khai thì sau khi bắn chết Đại đội trưởng của mình, y chạy vào rừng lang thang mấy ngày thì bị tàn quân Pôn Pốt bắt được, chúng đưa Th. đi một vị trí cách đó khá xa để khai thác và đánh đập rất dã man.
Biết Th. đã bắn chết chỉ huy của mình nên đám tàn quân này đã đưa về căn cứ để “tẩy não” thêm một thời gian nữa rồi buộc Th. phải dẫn đường cho chúng quay lại tập kích vào đơn vị mình. Nhưng do chưa tin tưởng Th. nên bọn địch không giao súng mà chỉ bắt Th. tải đạn cho chúng vào tập kích đơn vị và Th. suýt nữa thì cũng bị tiêu diệt như những tên Pôn Pốt đi cùng.
Sau khi Th. bị bắt, liên ngành điều tra hình sự, VKS, TAQS, đơn vị đã họp xác định đây là vụ án điểm, yêu cầu điều tra truy tố xét xử nhanh để phục vụ nhiệm chính trị của đơn vị. Vụ án này cũng được Tư lệnh quan tâm, thường xuyên hỏi về tiến độ giải quyết. Tất nhiên yếu tố phục vụ nhiệm vụ chính trị cũng là hết sức cần thiết nhưng chúng tôi cũng phải thao tác chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật.
Từ khi bắt được Th. cho đến lúc chuẩn bị đưa ra xét xử, liên ngành họp thường xuyên để nghe báo cáo tiến độ và cho đường lối giải quyết. Sở dĩ phải họp liên tục vì lúc đó chưa có pháp lệnh tổ chức VKSQS, thậm chí BLHS cũng chưa ra đời.
Để tránh sai sót, mọi việc theo chỉ đạo của ngành dọc và của Tư lệnh quân đoàn, chúng tôi làm cực kỳ thận trọng. Vụ án này tôi được tham gia ngay từ khi có quyết định khởi tố. Tất nhiên tôi cũng đồng nhất quan điểm Th. phạm hai tội: Giết người và Đầu hàng địch, nhưng đến khi họp trù bị để chuẩn bị đưa ra xét xử, quan điểm của tôi lại khác với đa số ý kiến cho rằng hành vi của bị cáo rất dã man, bắn người chỉ huy của mình khi thấy đã chết vẫn còn cố bồi thêm mấy phát đạn nữa thể hiện quyết tâm phạm tội rất cao. Sau đó lại vác súng vào rừng, chẳng những đã đầu hàng quân địch lại còn trực tiếp dẫn địch vào đánh lại ta.
Hành vi ấy thỏa mãn yếu tố cấu thành của tội Đầu hàng địch, còn có tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Đa số các ý kiến cho rằng nên áp dụng mức án cao nhất: Loại bỏ Th. ra khỏi đời sống cộng đồng mới là thỏa đáng.
Qua đọc hồ sơ rồi trực tiếp vào trại giam phúc cung bị can, tôi nhận thấy, người bị hại cũng có phần có lỗi trong việc này. Nhân thân Th. không phải là xấu, Th. đã học xong PTTH, có nhận thức xã hội nhất định, gia đình có một người chú hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.
Theo một số nhân chứng thì việc Th. tranh luận với cán bộ đều có căn cứ, chứ không phải là nói bừa, nói ẩu, các công việc được giao Th. đều hoàn thành. Việc chạy vào rừng theo địch của Th. không có ý định từ trước, Th. chạy vào rừng là để tránh sự trừng phạt ngay lúc đó của đơn vị mà thôi. Th. đi cùng với tàn quân địch chứ không phải là “dẫn đường cho địch”, bởi bọn tàn quân địch ở đây đều là dân sở tại, chúng chẳng lạ lẫm gì đường đi lối lại nơi đơn vị đứng chân, nên đưa ra tình tiết “dẫn đường cho địch vào đánh đơn vị” xem ra không thỏa đáng. Từ những căn cứ này, tôi đề xuất chỉ nên xử Th. mức án chung thân. Sau một hồi tranh luận kịch liệt, cuối cùng quan điểm này đã được hội nghị nhất trí. Việc xét xử diễn ra ít ngày sau đó.
Một năm sau đó, khi đưa các bị án về giao cho trại cải tạo của quân đội ở khu vực rừng Miền Đông Nam bộ, tôi có dịp gặp Th. một lần. Cậu ta mừng rối rít bảo, nếu không có cán bộ chắc em đã theo ông bà về chầu tiên tổ lâu rồi. Tôi động viên cậu ta phải cải tạo cho tốt, rất có thể sẽ được trở lại hòa nhập cộng đồng. Cậu ta bảo nếu được vậy thì còn gì bằng, sẽ cố gắng thật nhiều.
Mấy chục năm qua đi và cho đến tận giờ này đã chuyển ra công tác tại VKSND, tôi cũng không có lấy một mẩu tin dù là rất ngắn về Th. Chẳng biết cậu ta có còn nhớ đến cái người đã cứu cậu ta khỏi cái chết năm xưa hay không? Còn tôi, tôi vẫn vui mỗi khi nhắc lại câu chuyện năm nào. Tôi đã làm hết phận sự của một người cán bộ kiểm sát quân sự, thận trọng, khách quan trong việc đánh giá phân tích chứng cứ để không phải ân hận trong quyết định của mình vì đã cứu vớt một kẻ “tử tù” thoát khỏi cái chết.
Đặng Đình Liêm