    |
 |
| Hội thảo đã đưa ra nhiều giải pháp để khơi thông nguồn vốn. |
Phát biểu tại Hội nghị, ông Phạm Đức Sơn - Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó xác định phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực; đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng nguồn cung hàng hóa minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
    |
 |
| Theo ông Phạm Đức Sơn, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn. |
Cũng theo ông Sơn, ngày 27/6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm đưa tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, trong đó 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng 11,9%.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, tương đương bình quân khoảng 7,7 triệu tỉ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Tuy nhiên, hiện nay cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỉ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức rất cao (khoảng 146% tới cuối năm 2025), thuộc nhóm cao nhất đối với các nước có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này đặt ra không ít thách thức trong công tác điều hành, nhất là đối với vấn đề cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Tín dụng trung và dài hạn hiện vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro kỳ hạn và áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển.
    |
 |
| Bà Hà Thu Giang, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết, sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, quy định về hoạt động tín dụng ngân hàng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. |
Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỉ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỉ, tương đương khoảng 10% GDP… Những con số còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Còn theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030. Đảng, Quốc hội và Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (phấn đấu từ 10% trở lên) gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.
Theo đó, tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, quy định về hoạt động tín dụng ngân hàng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Điều hành và triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn và phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Thường xuyên theo dõi, đánh giá hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, trong nước tới các ngành, lĩnh vực kinh tế để có giải pháp điều hành tín dụng phù hợp; kịp thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng, tín dụng đối với ngành, lĩnh vực.
    |
 |
| TS. Cấn Văn Lực: điểm nghẽn quan trọng nằm ở thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. |
Tiếp tục theo dõi, đẩy mạnh triển khai Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp dưới nhiều hình thức phù hợp để nắm bắt thực tế và kịp thời có giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc phát sinh trong công tác tín dụng.
Bên cạnh đó, theo bà cần có giải pháp tổng thể từ các cấp, ngành trong việc: tạo lập môi trường ổn định, duy trì niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công để tạo sự lan tỏa sang đầu tư của khu vực tư nhân và đầu tư toàn xã hội; phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực vốn tín dụng cho hệ thống ngân hàng; hoàn thiện thể chế, chiến lược, quy hoạch; cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, kinh doanh để nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, qua đó tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng định hướng đầu tư tín dụng phù hợp, hiệu quả.
Dưới góc nhìn chuyên gia, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cho rằng, để đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỉ đồng.
Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỉ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỉ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỉ đồng, chiếm 65% tổng nhu cầu vốn.
Theo TS. Cấn Văn Lực, điểm nghẽn quan trọng nằm ở thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. Khung pháp lý đối với các mô hình kinh doanh và sản phẩm tài chính mới còn chậm được ban hành; sở hữu chéo dù đã giảm nhưng vẫn phức tạp; rủi ro liên thông giữa hệ thống tài chính và bất động sản cần được giám sát chặt chẽ hơn.
Ông kiến nghị ban hành một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.
Thị trường cũng cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và hệ thống cảnh báo sớm; chuyển từ tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu.
Theo TS. Cấn Văn Lực, quá trình phát triển thị trường tài chính cần dựa trên ba nền tảng cốt lõi: thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh.