leftcenterrightdel
 Theo ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan, Dự thảo luật dự kiến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung thêm 4 điều mới.

Sửa đổi luật để phù hợp với thực tiễn

Phát biểu tại Hội thảo “Lấy ý kiến doanh nghiệp về Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan”, ông Nguyễn Thành Hưng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan cho biết, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được thông qua ngày 23/6/2014, có hiệu lực từ ngày 1/1/2015. Qua 12 năm thực thi, hành lang pháp lý cũ được thiết lập trên tư duy kiểm soát tại biên giới, vốn chú trọng vào việc bao quát hành chính bằng hồ sơ giấy tờ hơn là đồng hành cùng tốc độ dòng chảy thương mại. Khi các phương thức giao thương phi truyền thống bùng nổ, tư duy kiểm soát thủ công cũ đã tạo ra những “điểm nghẽn” ngầm về chi phí thời gian và chi phí cơ hội cho nền kinh tế.

Do đó, theo ông Hưng, Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan dự kiến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung thêm 4 điều mới và tinh thần cốt lõi mang tính định hướng của là dịch chuyển trọn vẹn sang tư duy phục vụ, tháo gỡ triệt để các rào cản hành chính nhằm tối ưu hóa chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro hệ thống.

Đồng thời, đây là hành động pháp lý mạnh mẽ nhằm cụ thể hóa và thể chế hóa các Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW về chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW về thúc đẩy kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, Ban soạn thảo cũng bỏ quy định Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của Hải quan các cấp (khoản 2 Điều 14 hiện hành) để chuyển giao toàn bộ thẩm quyền này cho Bộ Tài chính chủ động điều hành để phù hợp với thực tiễn từng giai đoạn. Cơ chế này nâng cao tính chủ động thực thi của cơ quan chuyên trách, giảm bớt tối đa các khâu trung gian, cắt giảm triệt để các thủ tục xin - cho mang tính hành chính, từ đó đẩy nhanh tốc độ phản ứng chính sách trước những biến động nhanh chóng và khó lường của thị trường tài chính, thương mại thế giới.

leftcenterrightdel
 Việc sửa đổi Luật Hải quan là bước đi quan trọng để tạo động lực cho hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn phát triển mới. Ảnh minh họa

Phát biểu tại Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao những kết quả cải cách mà ngành Hải quan đạt được trong hơn một thập kỷ qua. Từ mô hình kê khai giấy tờ thủ công, đến nay gần như toàn bộ quy trình đã được điện tử hóa. Thời gian thông quan đối với luồng xanh chỉ còn tính bằng giây. Đặc biệt, tỉ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa đã giảm từ gần 10% xuống còn khoảng 2,65% trong năm vừa qua, dù số lượng tờ khai tăng gấp nhiều lần. Những con số đó phản ánh rõ hiệu quả của tiến trình hiện đại hóa hải quan, đồng thời tạo nền tảng để ngành Hải quan tiếp tục bước sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu xây dựng hải quan số, hải quan thông minh.

Đối với Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, theo ông Tuấn đã tập trung sửa đổi nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử; thủ tục hải quan đối với hàng hóa quá cảnh, trung chuyển; trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng; kiểm tra sau thông quan và quản lý tuân thủ…

Ngoài ra, việc Dự thảo luật bổ sung các quy định về quản lý tuân thủ, hồ sơ điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo cho thấy nỗ lực thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia.

Bước đi quan trọng để giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh

Cùng với yêu cầu hiện đại hóa, cộng đồng doanh nghiệp cũng mong muốn các quy định mới phải bảo đảm tính minh bạch và khả năng dự báo. Việc chuyển toàn bộ chứng từ sang môi trường điện tử hay áp dụng cơ chế ra quyết định tự động là xu hướng tất yếu. Song theo ông, cần đi kèm cơ chế giải trình rõ ràng để xử lý những trường hợp phát sinh sai sót từ hệ thống, tránh đẩy doanh nghiệp vào thế bị động.

Cũng theo ông Tuấn, việc sửa đổi Luật Hải quan lần này không chỉ nhằm hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước mà còn là bước đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu giảm chi phí tuân thủ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực cho hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn phát triển mới.

Dưới góc độ chuyên gia nghiên cứu, TS. Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, việc luật hóa cơ chế chia sẻ dữ liệu thời gian thực và công nhận thông điệp dữ liệu điện tử là bước chuyển mang tính cách mạng trong tư duy lập pháp hải quan. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng và tính tương thích về hạ tầng công nghệ của các bộ, ngành liên quan tham gia vào Cơ chế một cửa quốc gia.

Để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, thông tin một khi đã được số hóa và cập nhật lên hệ thống hải quan thì không được phép yêu cầu doanh nghiệp phải khai báo lại dưới bất kỳ hình thức nào ở các bộ ngành khác. Luật Hải quan sửa đổi cần thiết lập một quy chuẩn dữ liệu dùng chung có tính ràng buộc pháp lý cao để bảo đảm dòng chảy dữ liệu thực sự thông suốt, tạo đột phá lớn cho năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Từ góc độ của của doanh nghiệp, ông Ngô Khắc Lễ - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) nhận định, đối với ngành dịch vụ logistics, thời gian và sự minh bạch của quy trình thông quan chính là yếu tố cốt lõi quyết định chi phí và năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống chuỗi cung ứng. Việc dự thảo luật hóa cơ chế chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực và công nhận giá trị pháp lý tuyệt đối của thông điệp dữ liệu điện tử thay thế chứng từ giấy là bước đi trúng đích, giúp xóa bỏ các “điểm nghẽn” về thủ tục tại biên giới, giảm tối đa thời gian giải phóng hàng hóa và tiết giảm chi phí lưu kho bãi cho doanh nghiệp.

Ông cùng cho rằng, khi Luật Hải quan sửa đổi đi vào thực thi, hệ thống cổng thông tin hải quan thông minh không chỉ dừng lại ở việc tự động hóa tác nghiệp, mà cần vận hành như một hệ sinh thái mở, kết nối thông suốt với hạ tầng số của các cảng biển, kho bãi và các bên liên quan, tạo bệ phóng vững chắc cho hoạt động logistics quốc gia bứt phá.

M. Nhật