leftcenterrightdel
 Quy định tại dự thảo dự kiến tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, logistics, chuyển phát nhanh. Ảnh minh họa

Gia tăng hàng giá trị nhỏ, đặt ra yêu cầu quản lý mới

Theo Cục Hải quan, ngày 25/8/2026, Bộ Tài chính có công văn số 13362/BTC-CST lấy ý kiến các Bộ, ngành, hiệp hội liên quan về dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Tại Điều 29 dự thảo Nghị định có nội dung điều chỉnh giảm mức miễn thuế đối với hàng hóa có trị giá nhỏ. Chính sách này dự kiến tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, logistics, chuyển phát nhanh và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Để giúp cộng đồng doanh nghiệp nắm bắt đầy đủ nội dung, mục tiêu và định hướng điều chỉnh chính sách, chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết khi chính sách được ban hành, chiều ngày 8/9, Cục Hải quan đã thông tin về nội dung giảm mức thuế đối với hàng hóa có trị giá nhỏ tại Điều 29 dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định hàng hóa có trị giá hoặc số tiền thuế phải nộp dưới mức tối thiểu thuộc đối tượng miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 29 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP) quy định mức miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh khác với mức miễn thuế áp dụng đối với hàng hóa có trị giá tối thiểu.

 Theo Cục Hải quan, nội dung sửa đổi Điều 29 dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như sau:

Điều 29. Miễn thuế đối với hàng hóa có trị giá tối thiểu

Hàng hóa có tổng trị giá hải quan từ 100.000 đồng Việt Nam trở xuống hoặc có tổng số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp từ 10.000 đồng Việt Nam trở xuống cho một lần xuất khẩu, nhập khẩu được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Quy định tại Điều này không áp dụng đối với hàng hóa là quà biếu, quà tặng, hàng hóa mua bán trao đổi của cư dân biên giới.

Hiện nay, thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tại Việt Nam, thương mại điện tử tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, với quy mô thị trường bán lẻ năm 2024 ước đạt trên 25 tỉ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023, năm 2025 đạt quy mô khoảng 31 đến 38,5 tỉ USD với tốc độ tăng trưởng từ 21% đến 25,5%. Bước sang nửa đầu năm 2026, thị trường tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 2 con số ở mức 19% đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử hàng đầu thế giới.

Sự phát triển của các nền tảng thương mại điện tử giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận hàng hóa từ nước ngoài, làm gia tăng đáng kể số lượng các lô hàng nhập khẩu có giá trị thấp. Trong bối cảnh thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển mạnh, số lượng lớn lô hàng giá trị nhỏ được nhập khẩu với tần suất cao qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh, việc quy định các ngưỡng miễn thuế khác nhau không còn phù hợp.

Chính sách miễn thuế đối với hàng hóa giá trị nhỏ được áp dụng nhằm giảm chi phí quản lý và tạo thuận lợi thương mại. Tuy nhiên, khi quy mô giao dịch tăng nhanh, chính sách này đã bộc lộ một số hạn chế như tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng nhập khẩu so với hàng sản xuất trong nước, làm phát sinh nguy cơ gian lận thông qua việc chia nhỏ đơn hàng để hưởng ưu đãi thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước.

Thu hẹp ưu đãi để bảo đảm cạnh tranh công bằng

Tại Việt Nam, ngày 3/1/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2025/QĐ-TTg bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 78/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 về mức giá trị hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh được miễn thuế, qua đó chấm dứt chính sách miễn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị nhỏ gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh.

Đến nay, quy định miễn thuế đối với hàng có giá trị nhỏ chỉ còn áp dụng đối với thuế nhập khẩu (được quy định tại khoản 5 Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu).

Pháp luật Việt Nam quy định ngưỡng miễn thuế đối với hàng hóa có trị giá hoặc số tiền thuế phải nộp ở mức thấp là tuân thủ theo quy định tại Công ước Kyoto sửa đổi. Công ước không đưa ra một mức trị giá tối thiểu chung áp dụng cho tất cả các quốc gia mà dành cho pháp luật quốc gia xác định ngưỡng phù hợp với điều kiện quản lý, chính sách thuế và yêu cầu tạo thuận lợi thương mại của từng nước. Do đó, các quốc gia thành viên có thể chủ động xác định, điều chỉnh hoặc hoàn thiện chính sách này phù hợp với yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ và được cân nhắc trên cơ sở tương quan giữa số thuế phải thu với chi phí hành chính phát sinh trong quá trình tính, thu và quản lý thuế.  

Về cơ chế thực thi, Công ước không quy định chế tài xử phạt khi các quốc gia thành viên không quy định mức ngưỡng trị giá nhỏ được miễn thuế mà chỉ quy định trong trường hợp có quốc gia không quy định thì quốc gia khác có thể báo cáo lên cơ quan quản lý Công ước hoặc thương lượng với nhau.

Theo Cục Hải quan, trên cơ sở đánh giá thực tiễn quản lý trong nước, xu hướng điều chỉnh chính sách thuế đối với hàng hóa trị giá nhỏ của các quốc gia, Bộ Tài chính thấy rằng, không nên quy định miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có trị giá nhỏ.

Tuy nhiên, do Việt Nam là thành viên Công ước Kyoto và Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành vẫn đang quy định miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với hàng hóa có giá trị nhỏ nên Bộ Tài chính đề xuất vẫn tiếp tục quy định miễn thuế nhưng cần sửa lại mức miễn thuế để đảm bảo công bằng với hàng hóa trong nước.

Cụ thể, sửa đổi Điều 29 theo hướng miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp từ 10.000 đồng trở xuống hoặc hàng hóa có tổng trị giá hải quan từ 100.000 đồng Việt Nam trở xuống cho một lần xuất khẩu, nhập khẩu. Quy định này áp dụng thống nhất đối với cả hàng hóa gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh.

Ngoài ra, Điều 29 có khoản 4 và khoản 5 quy định về hồ sơ, thủ tục miễn thuế cũng cần lược bỏ do đã được đưa vào Thông tư số 86/2026/TT-BTC để thực hiện theo thẩm quyền ban hành văn bản quy định tại Luật Quản lý thuế.

Minh Nhật