leftcenterrightdel
 Quang cảnh phiên làm việc chiều 17/10 của Quốc hội. Ảnh: CTTĐT Quốc hội

Mở rộng từ tiếp cận tín dụng sang đa dạng hóa các nguồn vốn cho doanh nghiệp

Trình bày tờ trình tóm tắt dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo sửa đổi tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng không quy định về số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, thay vào đó quy định số lao động bình quân năm.

leftcenterrightdel
 Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: CTTĐT Quốc hội

Đồng thời, nâng mức trần xác định đối với các tiêu chí về lao động (không quá 300 người), tổng doanh thu (không quá 400 tỉ đồng) và tổng nguồn vốn (không quá 150 tỉ đồng) phù hợp với bản chất của doanh nghiệp nhỏ và vừa, dễ áp dụng, có khả năng đối chiếu dựa trên cơ sở dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm và phù hợp với thông lệ quốc tế, biến động giá thị trường.

Bên cạnh đó, dự thảo hoàn thiện quy định về nguồn lực, hình thức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hành vi bị nghiêm cấm, bảo đảm quản lý chặt chẽ nguồn lực hỗ trợ, quy định các hình thức hỗ trợ gắn với các nội dung hỗ trợ phù hợp; phòng ngừa trục lợi chính sách; khuyến khích huy động nguồn lực hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đặc biệt, dự thảo bổ sung quy định về Phiếu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (voucher), xác nhận quyền của doanh nghiệp nhỏ và vừa được lựa chọn sử dụng hàng hóa, dịch vụ, giải pháp trong phạm vi, thời hạn và mức hỗ trợ của voucher để thanh toán chi phí cho bên cung cấp, phục vụ nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.

Về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu rõ, dự thảo sửa đổi quy định về hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn theo hướng mở rộng từ tiếp cận tín dụng sang đa dạng hóa các nguồn vốn cho doanh nghiệp, gồm tín dụng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, thị trường vốn, vốn đầu tư và các nguồn vốn hợp pháp khác.

leftcenterrightdel
 Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: CTTĐT Quốc hội

Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung quy định về hỗ trợ thuế và kế toán theo hướng giảm chi phí tuân thủ; bổ sung quy định nâng ngưỡng doanh thu được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản lên 10 tỉ đồng/năm đối với doanh nghiệp và cá nhân cư trú, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong tuân thủ thủ tục hành chính về thuế.

Thêm một chính sách đáng chú ý nữa là hỗ trợ mặt bằng sản xuất trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Luật Đất đai, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và luật hóa đầy đủ các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh tại Nghị quyết số 198/2025/QH15.

Dự thảo Luật cũng cho phép địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở ươm tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại; quy định trách nhiệm dành một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại.

Cùng với đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong vòng 5 năm đầu kể từ ngày ký hợp đồng thuê đất với chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở ươm tạo. Mức giảm tiền thuê lại đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại dự thảo Luật chưa thật sự hợp lý

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành sự cần thiết ban hành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

leftcenterrightdel
 Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra. Ảnh: CTTĐT Quốc hội

Đối với một số nội dung lớn còn có ý kiến khác nhau, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận thấy, các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại dự thảo Luật chưa thật sự hợp lý và khó áp dụng trong thực tiễn, bởi cả 3 tiêu chí làm căn cứ để xác định (số lao động bình quân năm, tổng doanh thu, tổng nguồn vốn) cơ bản biến động, thay đổi hằng năm.

Việc xác định được 3 tiêu chí này cơ bản phải chờ doanh nghiệp có báo cáo tài chính năm trước, dẫn đến nhiều trường hợp sẽ rất khó khăn trong việc xác định, hỗ trợ doanh nghiệp thuộc diện doanh nghiệp nhỏ và vừa; khó khăn trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ trung hạn, dài hạn 3-5 năm đối với các trường hợp doanh nghiệp có năm thuộc tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa, có năm không thuộc tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Do đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu xác định tiêu chí phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động của từng nhóm doanh nghiệp; xác định thông tin, số liệu trong 2-3 năm liền kề; làm rõ tác động đến phạm vi thụ hưởng và nguồn lực, tránh lợi dụng chính sách.

Về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ quan thẩm tra cơ bản nhất trí với các chính sách tại dự thảo, tuy nhiên nhiều chính sách còn trùng lặp giữa các điều hoặc với pháp luật chuyên ngành.

leftcenterrightdel
 Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: CTTĐT Quốc hội

Về tiếp cận nguồn vốn (Điều 8), theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, khả năng thực thi một số cơ chế tại Điều này còn phụ thuộc vào khuôn khổ pháp luật, hạ tầng định giá, đăng ký, xử lý tài sản bảo đảm, nhất là tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế khai thác, chia sẻ dữ liệu phục vụ cấp vốn.

Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bảo đảm các hình thức cấp vốn, biện pháp bảo đảm và việc khai thác, chia sẻ dữ liệu được thực hiện thống nhất, khả thi; không làm ảnh hưởng đến quyền tự chủ, nguyên tắc cấp tín dụng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.

Tán thành cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận mặt bằng, song Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị chỉnh lý dự thảo theo hướng quy định mục tiêu, đối tượng, nguyên tắc hỗ trợ.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, việc dùng ngân sách địa phương đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê khó thực hiện ở địa phương có nguồn thu hạn chế; quy định bố trí bình quân 20ha mỗi khu công nghiệp, cụm công nghiệp hoặc 5% diện tích đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khó bảo đảm tính khả thi do nhu cầu, quỹ đất giữa các địa phương khác nhau.

Đối với chính sách giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ nguồn ngân sách, cơ chế hoàn trả, không để phát sinh việc tăng giá thuê để hưởng hỗ trợ.

Về ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mua sắm công, cơ quan thẩm tra đánh giá đây là chính sách tác động trực tiếp đến cạnh tranh, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Vì vậy, cần quy định bảo đảm phù hợp với pháp luật về đấu thầu, không tạo cơ chế lựa chọn nhà thầu song song…

Minh Khôi