    |
 |
| Đồng chí Lê Văn Đông, Đại biểu Quốc hội, Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh phát biểu thảo luận tại Hội trường chiều ngày 27/10/2026 tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. |
Chiều 27/10/2026, tại phiên họp toàn thể ở Hội trường, đồng chí Lê Văn Đông, Đại biểu Quốc hội, Thành ủy viên, Viện trưởng VKSND TP Hồ Chí Minh tham gia góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi, xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội.
Phát biểu tại phiên họp, đồng chí Lê Văn Đông đánh giá cao sự chuẩn bị của cơ quan chủ trì soạn thảo, nhất là việc tiếp thu các ý kiến đóng góp tại kỳ họp trước để tiếp tục hoàn thiện các dự thảo.
Từ thực tiễn công tác, kết quả góp ý tại kỳ họp trước và quá trình nghiên cứu dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Đại biểu Lê Văn Đông tập trung phân tích những vấn đề liên quan đến tố tụng điện tử - một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo.
Tố tụng điện tử không chỉ là thay hồ sơ giấy bằng tệp điện tử
Theo Đại biểu Lê Văn Đông, trước hết cần nhìn nhận tố tụng điện tử là một chính sách mới, trực tiếp thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, tạo cơ sở pháp lý để đổi mới phương thức giải quyết vụ án hình sự theo hướng nhanh hơn, chặt chẽ và minh bạch hơn.
Điểm đáng chú ý là tố tụng điện tử không đơn thuần chỉ là việc chuyển hồ sơ giấy thành tệp điện tử, mà được xác lập như một phương thức tổ chức và thực hiện hoạt động tố tụng trên môi trường số, có giá trị pháp lý và được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án khi đáp ứng các điều kiện luật định.
Cơ chế này cũng tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng tăng cường phối hợp, thực hiện các thủ tục trên môi trường số và chia sẻ, liên thông dữ liệu, qua đó hạn chế việc sao chụp, chuyển giao hồ sơ nhiều lần, đồng thời hình thành nguồn thông tin thống nhất qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Đối với người tham gia tố tụng, việc gửi, nhận văn bản bằng phương thức điện tử có thể giảm thời gian đi lại, tạo thuận lợi trong tiếp cận thông tin và thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Đại biểu Lê Văn Đông cũng đánh giá dự thảo đã dành nhiều quy định khá cụ thể, đồng bộ cho hoạt động tố tụng trên môi trường điện tử. Theo đó, điểm q khoản 1 Điều 4 xác định tố tụng điện tử là phương thức tổ chức và thực hiện hoạt động tố tụng trên môi trường số.
Điều 18 khẳng định hoạt động tố tụng điện tử có giá trị pháp lý, nhưng phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm tính hợp pháp, xác thực, toàn vẹn, khả năng truy xuất, bảo mật và an ninh dữ liệu; đặc biệt không được làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.
Điều 143 quy định hồ sơ vụ việc, vụ án có thể được lập, quản lý, lưu trữ dưới dạng điện tử; tài liệu giấy được số hóa; hồ sơ điện tử có mã quản lý duy nhất và được chia sẻ, liên thông giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Trong khi đó, Điều 144 và Điều 145 cho phép chữ ký, con dấu, văn bản, biên bản được thực hiện hoặc xác nhận bằng phương thức điện tử; việc sửa chữa biên bản điện tử phải bảo đảm xác định được nội dung trước và sau khi sửa chữa.
Đối với việc cấp, giao, chuyển văn bản tố tụng, Điều 155 cho phép thực hiện qua hệ thống quản lý án hình sự, ứng dụng định danh điện tử quốc gia hoặc hệ thống thông tin khác, đồng thời xác định rõ thời điểm hoàn thành việc gửi, nhận và lưu thông tin trong hồ sơ vụ án.
Đại biểu cũng đánh giá việc Điều 268 luật hóa hình thức tổ chức phiên tòa trực tuyến đối với xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự là một bước tiến trong quá trình đổi mới hoạt động tố tụng.
Một điểm khác được Đại biểu Lê Văn Đông lưu ý là dự thảo đã dự liệu tình huống hệ thống gặp sự cố hoặc có hoạt động tố tụng chưa thể thực hiện bằng phương thức điện tử. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền phải chuyển sang phương thức phù hợp khác để không ảnh hưởng đến thời hạn tố tụng và quyền của người tham gia tố tụng; thông tin về sự cố được xác định thông qua nhật ký hệ thống.
Để tố tụng điện tử thực sự đi vào thực tiễn, Đại biểu Lê Văn Đông đề xuất sớm kết nối, liên thông dữ liệu giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan liên quan, thống nhất với lộ trình thực hiện từ ngày 1/1/2028 theo Nghị quyết.
Cùng với đó, các cơ quan Trung ương cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về bảo quản, lưu trữ và bảo mật dữ liệu nhằm bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin trong quá trình khai thác, sử dụng.
Các biểu mẫu điện tử, quy trình chuyển giao hồ sơ, quy tắc xác thực và cơ chế xử lý sự cố cũng cần được chuẩn hóa, đồng thời tổ chức đào tạo, tập huấn cán bộ đáp ứng yêu cầu của phương thức tố tụng mới.
Đại biểu cũng đề nghị tiếp tục rà soát các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo đảm thống nhất với pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, định danh điện tử, an ninh mạng và bảo vệ thông tin.
Không để khoảng trống trong bảo toàn tài sản liên quan đến tội phạm
Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội, Đại biểu Lê Văn Đông cho rằng đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản, nhất là trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc hình sự.
Tuy nhiên, dù Hiến pháp và pháp luật hiện hành đã có quy định bảo vệ quyền sở hữu và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm, hệ thống pháp luật chưa thiết lập đầy đủ một cơ chế, trình tự, thủ tục riêng để thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm trong trường hợp không qua kết tội.
Thực tiễn cho thấy việc thu hồi tài sản còn gặp nhiều khó khăn, quá trình xử lý có thể kéo dài, trong khi tài sản có nguy cơ bị tẩu tán, che giấu, thất thoát hoặc giảm giá trị.
Ngày 2/4/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 19-KL/TW về Đề án “Cơ chế thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam”.
Trên cơ sở đó, VKSND tối cao xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, thực hiện các cam kết quốc tế, tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản và đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Góp ý cụ thể về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Đại biểu Lê Văn Đông cho rằng đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả thực tế của Nghị quyết. Đại biểu đồng tình với quy định tại khoản 3 Điều 15 về việc tiếp tục duy trì các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm dừng giao dịch đã được áp dụng trong tố tụng hình sự khi chuyển sang thủ tục dân sự.
Theo Đại biểu, trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật thường phải đối mặt với những đối tượng có tiềm lực tài chính, am hiểu pháp luật và sử dụng nhiều phương thức tinh vi để tẩu tán, che giấu hoặc chuyển dịch tài sản, kể cả qua biên giới.
Chỉ cần xuất hiện một khoảng trống pháp lý trong thời gian rất ngắn khi chuyển từ thủ tục tố tụng hình sự sang giai đoạn khởi kiện vụ việc dân sự, tài sản có thể bị tẩu tán hoặc được chuyển sang tên người thứ ba ngay tình, gây khó khăn lớn cho việc kiểm soát và thu hồi sau này.
Vì vậy, quy định tại khoản 3 Điều 15 có ý nghĩa bảo đảm sự liên tục trong quá trình bảo toàn tài sản, không để hình thành khoảng trống giữa hai thủ tục. Việc tiếp tục duy trì các biện pháp đã áp dụng không đồng nghĩa làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bởi các biện pháp này vẫn phải đặt dưới sự giám sát của Tòa án, tuân thủ điều kiện áp dụng chặt chẽ và không vượt quá phạm vi cần thiết.
Từ góc độ nghiệp vụ tư pháp, đây cũng là một lớp kiểm soát cần thiết, kịp thời ngăn chặn nguy cơ tẩu tán tài sản trong thời gian cơ quan tiến hành tố tụng đang hoàn thiện hồ sơ để thực hiện thủ tục dân sự.
Những ý kiến của Đại biểu Quốc hội Lê Văn Đông gắn với thực tiễn công tác tố tụng và yêu cầu bảo đảm tính khả thi khi áp dụng pháp luật, là cơ sở để cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các dự thảo trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.