Nghị định này quy định cụ thể về danh mục hàng dự trữ quốc gia; kế hoạch hàng dự trữ quốc gia; nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia; bảo quản, sử dụng hàng dự trữ quốc gia; mua, bán hàng dự trữ quốc gia; nguồn hình thành và ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia; chế độ, chính sách đối với người làm công tác dự trữ quốc gia; kho dự trữ quốc gia, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hợp tác quốc tế và kiểm tra về dự trữ quốc gia.
Về nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong dự trữ quốc gia, Nghị định nêu rõ phải bảo đảm nguyên tắc, đó là: Tuân thủ quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, pháp luật về dự trữ quốc gia và pháp luật có liên quan.
Ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành trong dự trữ quốc gia; khuyến khích thử nghiệm, áp dụng công nghệ mới phù hợp với đặc thù lĩnh vực; bảo đảm tính linh hoạt, thích ứng với sự phát triển của công nghệ.
Việc triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong dự trữ quốc gia phải phù hợp với đặc thù, điều kiện thực tế, mức độ sẵn sàng và năng lực tổ chức thực hiện; bảo đảm an toàn, hiệu quả, không làm gián đoạn hoạt động quản lý; thực hiện theo lộ trình và có thể áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát theo quy định của pháp luật.
Về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, theo Nghị định quy định: Nâng cao năng suất lao động, bảo đảm nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược nhanh chóng, kịp thời gắn với đổi mới quy trình nghiệp vụ, hiện đại hóa các khâu nhập, xuất thông qua cơ giới hóa, tự động hóa và số hóa; bảo đảm an toàn, tăng cường khả năng giám sát, bảo đảm nhập, xuất nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý; dữ liệu, hồ sơ được ghi nhận, lưu vết, đối soát và cập nhật đầy đủ trên Hệ thống.
Quản lý, giám sát, theo dõi, cảnh báo kịp thời chất lượng hàng hóa trong quá trình nhập, xuất bảo đảm an toàn, đúng số lượng, chất lượng, đúng thời gian và đáp ứng yêu cầu nhập, xuất theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Thực hiện truy xuất nguồn gốc, nhận diện và quản lý thông tin trong quá trình nhập, xuất kho thông qua việc áp dụng công nghệ gắn chip, mã vạch hai chiều hoặc giải pháp công nghệ phù hợp; bảo đảm mỗi đơn vị hàng hóa được định danh và quản lý thống nhất, đầy đủ trên Hệ thống phục vụ yêu cầu quản lý trong quá trình bảo quản, sử dụng hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ số tiên tiến, phù hợp với đặc thù lĩnh vực dự trữ quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, truy xuất nguồn gốc, phân tích và dự báo.
Việc triển khai phù hợp với đặc thù từng mặt hàng, điều kiện kho tàng, trang thiết bị và năng lực tổ chức thực hiện; thực hiện theo lộ trình do cơ quan có thẩm quyền quy định; bảo đảm an toàn, hiệu quả, không làm gián đoạn hoạt động quản lý hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược.
Cơ quan, đơn vị quản lý dự trữ quốc gia chủ động lựa chọn, tổ chức thực hiện các giải pháp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng đối với hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tuân thủ quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển đổi số và pháp luật có liên quan.
Mặt khác, về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược, theo Nghị định quy định: Bảo đảm tính ổn định về chất lượng hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; giảm hao hụt, nâng cao hiệu quả công tác bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược và bảo vệ môi trường.
Tiếp thu, chuyển giao có chọn lọc công nghệ bảo quản tiên tiến trong nước và quốc tế; ứng dụng công nghệ kho thông minh, hiện đại hóa trang thiết bị để quản lý, vận hành kho an toàn, kiểm soát an ninh và bảo đảm số lượng, chất lượng hàng hóa, kịp thời xử lý các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng; tăng cường ứng dụng các thiết bị giám sát, thu thập dữ liệu, bảo đảm khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống theo quy định; trang bị công nghệ bảo quản và phương tiện, thiết bị kỹ thuật phù hợp để cơ giới hóa, tự động hóa các khâu trong bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; tổ chức theo dõi, giám sát thường xuyên, liên tục trên Hệ thống.
Cơ quan, đơn vị quản lý dự trữ quốc gia thực hiện quản lý, số hóa hồ sơ bảo quản và hồ sơ nghiệp vụ bảo quản liên quan (kết quả kiểm tra, kiểm nghiệm và hồ sơ kỹ thuật); bảo đảm dữ liệu được lưu trữ, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác và được quản lý trên môi trường số phục vụ công tác quản lý, kiểm tra, đánh giá chất lượng theo quy định.
Bảo đảm phù hợp với đặc thù từng mặt hàng, điều kiện kho tàng, trang thiết bị và năng lực tổ chức thực hiện; đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng đối với hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược theo pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; thực hiện theo lộ trình do cơ quan có thẩm quyền quy định, bảo đảm an toàn, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến công tác bảo quản thường xuyên hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược.
Nghị định gồm 3 chương, 34 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 4/9/2026. Riêng các nội dung quy định về dự trữ chiến lược có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.