Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
Nghị định này quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em.
Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.
Theo Nghị định quy định, hình thức xử phạt chính gồm: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền.
Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính; đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh liên quan đến hành vi vi phạm trong thời gian từ 1 tháng đến 3 tháng; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng.
Biện pháp khắc phục hậu quả: Biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, đ, e và i khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính; buộc dừng chăm sóc, nuôi dưỡng; buộc thu hồi, xóa, gỡ bỏ các thông tin, hình ảnh, hồ sơ của nạn nhân mua bán người, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; buộc xin lỗi khi có yêu cầu.
Buộc hoàn trả số tiền đã thu trái pháp luật; buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh; buộc sửa chữa, bổ sung, bảo đảm cơ sở vật chất, nhân sự theo quy định; buộc chi trả chế độ chính sách đúng quy định.
Buộc hoàn trả số tiền hoặc hàng cứu trợ do thực hiện hành vi vi phạm; buộc nộp lại giấy xác nhận khuyết tật; buộc thực hiện đầy đủ trách nhiệm của hội đồng hoặc buộc thực hiện đầy đủ phương pháp xác định mức độ khuyết tật, xác định lại mức độ khuyết tật.
Buộc thực hiện xác định, xác định lại mức độ khuyết tật; buộc chi trả toàn bộ chi phí mua sách, vở, đồ dùng học tập cho trẻ em; buộc bổ sung đủ chương trình, giáo trình, đội ngũ nhà giáo phù hợp với giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật.
Buộc cấp văn bằng, chứng chỉ; buộc thu hồi và tiêu hủy sản phẩm, ấn phẩm, đồ chơi, báo in và xuất bản phẩm; buộc gỡ bỏ tin, bài trên báo điện tử, tạp chí điện tử, báo nói, báo hình, xuất bản phẩm điện tử.
    |
 |
| Quang cảnh một Hội nghị tập huấn bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. (Ảnh minh hoạ) |
Buộc chấm dứt việc nhận chăm sóc thay thế, chuyển hình thức chăm sóc thay thế trẻ em phù hợp; buộc di dời cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em.
Buộc tháo dỡ công trình, thiết bị; buộc thực hiện kịp thời các biện pháp bảo đảm an toàn; buộc gỡ bỏ thông tin, dịch vụ gây hại cho trẻ em; gỡ bỏ các dịch vụ, ứng dụng giả mạo, xuyên tạc xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trên môi trường mạng; buộc thu hồi, xóa, gỡ bỏ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em.
Phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 50 triệu đồng, đối với tổ chức là 100 triệu đồng
Theo Nghị định quy định, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em đối với cá nhân là 50 triệu đồng, đối với tổ chức là 100 triệu đồng.
Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trừ các Điều 10, 11, 14, 15, 16, 34, khoản 1, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 37 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Đáng chú ý, liên quan đến vi phạm quy định về cấm bạo lực với trẻ em, Nghị định nêu rõ: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau:
Bắt nhịn ăn; bắt nhịn uống; không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân.
Bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc các hình thức đối xử tồi tệ khác với trẻ em.
Gây tổn hại về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng mạ, chửi mắng, đe dọa, cách ly ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.
Cô lập, xua đuổi hoặc dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.
Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn hại về tinh thần.
Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.
Mặt khác, theo Nghị định quy định: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi công bố, tiết lộ một trong các thông tin sau đây mà không được sự đồng ý của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, người giám hộ của trẻ em và trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên, gồm: Tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em.
Nghị định gồm 4 chương, 48 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 16/5/2026. Nghị định số 130/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
| Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em là 1 năm. Việc xác định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP, Nghị định số 190/2025/NĐ-CP. |