Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí số 126/2025/QH15 bao gồm: Khoản 4 Điều 17 về điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; khoản 6 Điều 18 về điều kiện thực hiện thêm loại hình báo chí; xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; mở chuyên trang của báo chí điện tử;
Khoản 5 Điều 19 về các trường hợp thu hồi giấy phép hoạt động báo chí đối với báo chí in, báo chí điện tử và giấy phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương, mở chuyên trang của báo chí điện tử;
Khoản 4 Điều 23 về liên kết trong hoạt động báo chí; khoản 5 Điều 25 về chế độ lưu chiểu, nộp ấn phẩm đối với báo chí in và báo chí điện tử; khoản 7 Điều 26 về lãnh đạo cơ quan báo chí;
Khoản 6 Điều 28 về trường hợp cấp lại, đổi và nộp lại thẻ nhà báo; khoản 2, khoản 4 Điều 29 về hoạt động báo chí trên không gian mạng;
Khoản 4 Điều 30 về trách nhiệm của cơ quan báo chí khi mở kênh nội dung của cơ quan báo chí trên không gian mạng;
Khoản 3 Điều 32 về trả lời trên báo chí; khoản 4 Điều 34 về cải chính trên báo chí; khoản 2 Điều 35 về gỡ bỏ thông tin vi phạm, thu hồi sản phẩm báo chí in; khoản 3 Điều 36 về phản hồi thông tin;
Khoản 1 Điều 37 về họp báo; khoản 4 Điều 39 về trách nhiệm của cơ quan báo chí trong việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; khoản 2 Điều 40 về thông tin phải ghi, thể hiện trên báo chí in, báo chí điện tử; khoản 5 Điều 46 về xuất khẩu, nhập khẩu báo chí.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cấp lại, đổi và nộp lại thẻ nhà báo
Về cấp lại, đổi và nộp lại thẻ nhà báo, Nghị định nêu rõ: Người đã được cấp thẻ nhà báo khi chuyển sang làm việc tại cơ quan, đơn vị công tác khác mà vẫn thuộc đối tượng được cấp thẻ nhà báo theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật số 126/2025/QH15 thì được đổi thẻ nhà báo về cơ quan mới.
Người đã được cấp thẻ nhà báo khi bị mất, bị hỏng thẻ thì được cấp lại thẻ nhà báo; trường hợp bị hỏng, người được cấp thẻ phải nộp lại thẻ khi đề nghị cấp lại thẻ.
    |
 |
| Cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân thăm Gian trưng bày Báo Bảo vệ pháp luật tại Hội Báo toàn quốc 2026. (Ảnh minh hoạ) |
Người được cấp thẻ nhà báo phải nộp lại thẻ nhà báo trong những trường hợp sau đây:
Người được cấp thẻ nhà báo nhưng chuyển sang làm nhiệm vụ khác không còn là đối tượng được cấp thẻ nhà báo theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật số 126/2025/QH15; người được cấp thẻ nhà báo đã nghỉ hưu; người đã hết thời hạn hợp đồng lao động nhưng không được ký tiếp hợp đồng lao động mới hoặc không tiếp tục làm việc tại cơ quan báo chí.
Người được cấp thẻ nhà báo làm việc tại cơ quan báo chí bị thu hồi giấy phép hoạt động báo chí theo quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định về các nội dung quy định tại điểm a và điểm b khoản này, người đứng đầu cơ quan công tác của người được cấp thẻ nhà báo chịu trách nhiệm thông báo bằng văn bản về các trường hợp quy định tại điểm a khoản này, thu lại thẻ nhà báo và nộp về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trường hợp người được cấp thẻ nhà báo không nộp lại thẻ, cơ quan báo chí có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định thu hồi thẻ nhà báo.
Người thuộc đối tượng phải nộp lại thẻ nhà báo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nộp lại thẻ nhà báo nếu được một cơ quan báo chí tiếp nhận vào làm việc theo chế độ hợp đồng từ 1 năm trở lên thì được xét đổi thẻ nhà báo theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Trách nhiệm của cơ quan báo chí trong việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
Về trách nhiệm của cơ quan báo chí trong việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, Nghị định quy định: Cơ quan báo chí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, biên tập, phân phối nội dung thông tin và các hoạt động báo chí khác phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về trí tuệ nhân tạo và các quy định có liên quan.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm kiểm chứng, rà soát và chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc hỗ trợ tạo ra.
Cơ quan báo chí phải thực hiện thông báo và gắn nhãn rõ ràng, tại vị trí dễ nhận biết đối với văn bản, hình ảnh, âm thanh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật; việc thông báo và gắn nhãn được thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Cơ quan báo chí không được sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra hoặc lan truyền nội dung giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, hoặc nội dung có khả năng gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Cơ quan báo chí phải thiết lập và duy trì quy trình thẩm định, biên tập, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm cá nhân đối với việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; lưu giữ nhật ký hoạt động và hồ sơ kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp nội dung thông tin sử dụng trí tuệ nhân tạo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Nhà nước khuyến khích các cơ quan báo chí nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, phân tích và phân phối nội dung thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, trên cơ sở bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và trách nhiệm biên tập của cơ quan báo chí.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Nội dung quy định tại Điều 17 Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2028.