leftcenterrightdel
 Tổng Bí thư Tô Lâm và Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú tại buổi làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương (ngày 7/1/2026) về định hướng xây dựng 2 nghị quyết quan trọng của Trung ương để chuẩn bị cho việc triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2011, tập 12, trang 403 – PV). Đạo đức và văn minh ấy của Đảng không chỉ thể hiện ở mục tiêu vì nước, vì dân, mà còn ở năng lực đổi mới tư duy, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám sửa chữa những hạn chế để lãnh đạo đất nước phát triển. Tinh thần đó xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo của Đảng, đặc biệt được thể hiện rõ nét qua mỗi kỳ Đại hội.

Từ “Đại hội đến Đại hội”, sự phát triển trong tư duy lãnh đạo và đường lối đổi mới của Đảng không chỉ phản ánh quá trình tự hoàn thiện về trí tuệ và bản lĩnh chính trị, mà còn là nhân tố quyết định đưa đất nước vượt qua nhiều bước ngoặt lịch sử, vững vàng tiến lên con đường phát triển bền vững, hùng cường và thịnh vượng.

Sự phát triển không ngừng trong tư duy lãnh đạo của Đảng

Sự trưởng thành của Đảng trước hết được thể hiện ở khả năng phát triển tư duy lãnh đạo phù hợp với quy luật vận động của xã hội và yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Qua các kỳ Đại hội, tư duy lãnh đạo của Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, ngày càng khoa học, toàn diện và sâu sắc hơn.

leftcenterrightdel
 Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú cùng các đại biểu cắt băng khai trương Trung tâm Báo chí Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN.

Bước ngoặt quan trọng về tư duy lãnh đạo được ghi nhận tại Đại hội VI (1986), khi Đảng dũng cảm đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế. Văn kiện Đại hội VI nêu rõ, yêu cầu phải đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới cách nghĩ, cách làm, coi đây là điều kiện tiên quyết để tháo gỡ khó khăn và khơi thông động lực phát triển. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, và chỉ có xuất phát từ thực tiễn mới có thể tìm ra con đường đúng đắn.

Từ Đại hội VII (1991), tư duy lãnh đạo của Đảng tiếp tục được nâng tầm với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên, Đảng xác định rõ mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện cụ thể của đất nước.

Đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 (Đại hội XI), tư duy lý luận của Đảng tiếp tục được hoàn thiện với việc làm rõ hơn các mối quan hệ lớn như: giữa đổi mới và ổn định, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo, thể hiện cách nhìn biện chứng, toàn diện và phù hợp với thực tiễn.

Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu, mà là làm cho mục tiêu được thực hiện có hiệu quả hơn. Tư duy đó được thể hiện nhất quán qua các kỳ Đại hội, khi Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

leftcenterrightdel
 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đang có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng lớn trên trường quốc tế. Ảnh: Báo Quân đội nhân dân.

Tại Đại hội XIII, tư duy lãnh đạo của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới, thể hiện ở tầm nhìn chiến lược dài hạn với các mốc mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giá trị văn hoá, khát vọng phát triển đất nước, sức mạnh con người Việt Nam, vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội để đất nước ta phát triển nhanh, bền vững hơn, lập nên kỳ tích phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc…

Bên cạnh đó, trong các phát biểu gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, tư duy quản trị quốc gia, lấy hiệu quả thực chất và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo. Đây là sự tiếp nối và phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, chất lượng cao hơn.

Song song với tư duy phát triển, tư duy về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng không ngừng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2011, tập 5, trang 301 - PV). Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác, Đảng ta luôn xem việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, coi đây là yêu cầu sống còn đối với vai trò cầm quyền của Đảng.

Sự phát triển không ngừng trong đường lối đổi mới của Đảng

Nếu tư duy lãnh đạo là nền tảng, thì đường lối đổi mới chính là sự cụ thể hóa tư duy đó thành các quyết sách chiến lược. Từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, đường lối đổi mới của Đảng ta không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, ngày càng đồng bộ và toàn diện.

leftcenterrightdel
 Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng dự kiến từ ngày 19-25/1. Ảnh: Báo Tin tức và Dân tộc.

Một trong những trọng tâm hàng đầu của đường lối đổi mới là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội IX lần đầu tiên xác định rõ khái niệm này. Và đến Đại hội XIII, nhận thức đã được hoàn thiện ở mức cao hơn, khi khẳng định đây là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự nhất quán và phát triển đó cho thấy, đường lối đổi mới của Đảng không phải là sự thay đổi nhất thời, mà là một quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn về quy luật phát triển.

Thực tiễn kết quả đất nước ta đạt được trong suốt 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối này. Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Nhận định này là sự tổng kết sinh động về hiệu quả của đường lối đổi mới qua nhiều kỳ Đại hội (câu nói này sau đó đã được đưa vào Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng – PV).

Cùng với đó, đường lối đổi mới của Đảng không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà ngày càng mang tính toàn diện. Đổi mới trong hệ thống chính trị được thực hiện một cách thận trọng, chắc chắn, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong lĩnh vực đối ngoại, đường lối đổi mới của Đảng được thể hiện rõ qua chủ trương độc lập, tự chủ gắn với đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”. Đây là đường lối đối ngoại hiện đại, phù hợp, giúp Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế.

leftcenterrightdel
 Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng dự kiến từ ngày 19-25/1. Ảnh: Báo Tin tức và Dân tộc. Ảnh: TTXVN.

Đặc biệt, trong bối cảnh mới, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được điều chỉnh linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Mới đây nhất, tại cuộc làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương (ngày 7/1/2026) về định hướng xây dựng 2 nghị quyết quan trọng của Trung ương để chuẩn bị cho việc triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết về các giải pháp chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ không chỉ là yêu cầu về kinh tế, mà là vấn đề chiến lược tổng hợp, góp phần nâng cao hiệu suất quốc gia, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý, quản trị của Nhà nước, hoàn thiện thể chế, phát triển con người, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Đây là con đường bắt buộc phải thực hiện để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm của đất nước. Mọi quyết sách về phát triển đều phải đặt trong tổng thể này. Định hướng này của Tổng Bí thư Tô Lâm có ý nghĩa chiến lược, thể hiện sự nhạy bén của Đảng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của thực tiễn đất nước ta.

Từ “Đại hội đến Đại hội”, đường lối đổi mới của Đảng luôn thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển, kiên định mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt trong sách lược và bước đi. Chính sự nhất quán trong mục tiêu, đồng thời đổi mới trong phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện, đã tạo nên sức sống bền bỉ của công cuộc đổi mới không ngừng nghỉ.

Nhìn lại chặng đường từ “Đại hội đến Đại hội” trong gần 100 năm lãnh đạo đất nước, có thể khẳng định, sự phát triển không ngừng trong tư duy lãnh đạo và đường lối đổi mới của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mỗi kỳ Đại hội là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong nhận thức và hành động, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm của Đảng trước dân tộc.

Lịch sử không đứng yên và tiến trình phát triển của Đảng ta cũng vậy. Những bài học, kinh nghiệm quý giá được tích lũy trong bề dày gần một thế kỷ lãnh đạo đất nước chính là hành trang quý báu để Đảng ta tiếp tục hoàn thiện, nhất là ngay trong kỳ Đại hội XIV lần này, đưa đất nước Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên của sự phát triển hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc.

Vũ Cảnh