Tóm tắt nội dung vụ án

TAND khu vực 11, TP Hà Nội vừa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về việc tranh chấp về đòi nhà, đất cho ở nhờ và yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn là bà Bùi Thị Thiện (SN: 1933; nơi thường trú: Xóm Phạm Hồng Thái, xã Hồng Vân, Hà Nội) và những người khác (gồm: Bà Đỗ Thị Mai, Đỗ Mạnh Cương, Đỗ Thị Chi, Đỗ Bích Hợp, Phạm Thị Miền, Đỗ Thị Huyên, Đỗ Quang Duy…) với bị đơn là các ông, bà: Đ.Đ.H, Đ.T.V, Đ.T.D

Nội dung vụ án thể hiện, hai vợ chồng cụ Đỗ Văn Lưu và Lê Thị Ngọc có 7 người con. Năm 1940 toàn bộ di sản của hai cụ được đăng ký kê khai đứng tên cụ Ngọc. Năm 1942, cụ Ngọc tặng cho một phần thửa đất cho cụ Đỗ Văn Thi là con trai thứ (cụ Thi mất năm 1948). Sau khi cụ Thi mất, toàn bộ tài sản được thừa kế hợp pháp cho người anh ruột là cụ Đỗ Văn Hiến cùng vợ là cụ Nguyễn Thị Chắt và các con. Vợ chồng cụ Hiến quản lý, sử dụng nhà, đất từ năm 1948. Sau đó, hai cụ cho người khác ở nhờ và năm 1974 có yêu cầu trả lại nhưng người này không trả, từ đó hai bên đã xảy ra tranh chấp kéo dài.

Do đó, phía nguyên đơn khởi kiện đề nghị TAND khu vực 11, TP Hà Nội xem xét giải quyết: Công nhận thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3, diện tích 150m2 và 1 ngôi nhà ngói 5 gian, 1 căn gác 2 tầng tại số nhà 82, xóm Phạm Hồng Thái, xã Hồng Vân, TP Hà Nội là tài sản của cụ Đỗ Văn Thi, được thừa kế hợp pháp bởi cụ Đỗ Văn Hiến, cụ Nguyễn Thị Chắt và các con, cháu gồm: Bùi Thị Thiện, Đỗ Thị Mai, Đỗ Mạnh Cương, Đỗ Thị Chi, Đỗ Bích Hợp, Phạm Thị Miền, Đỗ Thị Huyên, Đỗ Quang Duy.

Theo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/6/2026, thửa đất số 777, tờ bản đồ số 10, diện tích 150m2 bản đồ địa chính năm 1940, nay là thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3, diện tích 160m2, bản đồ địa chính năm 1994, mang biển số nhà 82, xóm Phạm Hồng Thái, xã Hồng Vân, TP Hà Nội, có diện tích đất đo đạc thực tế là 160m2, trên đất có 1 nhà 3 tầng, 2 nhà 1 tầng và 1 bể nước do ông H, bà V xây dựng, đưa vào sử dụng từ năm 2021. Hiện vợ chồng anh M, chị Ph và 3 con sử dụng nhà 3 tầng; 2 nhà 1 tầng được cho thuê để làm cửa hàng.

Nguyên đơn cũng yêu cầu Toà án buộc bị đơn và những cá nhân, tổ chức khác (nếu có) đang chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp khối tài sản trên phải di chuyển tài sản của mình và trả cho các thừa kế của cụ Đỗ Văn Thi thửa đất nêu trên. Đồng thời, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại cho các thừa kế của cụ Đỗ Văn Thi giá trị ngôi nhà ngói 5 gian, căn gác 2 tầng tại số nhà 82, xóm Phạm Hồng Thái, xã Hồng Vân, TP Hà Nội đã phá dỡ theo quy định pháp luật.

leftcenterrightdel
 Quang cảnh một phiên toà rút kinh nghiệm vụ án dân sự. (Ảnh minh hoạ)

Phía bị đơn thì không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời đề nghị công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3, diện tích 150m2 và quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất trên cho gia đình bị đơn.

Toà án buộc bị đơn trả toàn bộ diện tích nhà, đất cho nguyên đơn

Theo TAND khu vực 11, căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định từ năm 1950 cụ Hiến và cụ M. có thỏa thuận bằng lời nói về việc cụ Hiến cho cụ M. mượn ngôi nhà ngói 5 gian thuộc thửa đất số 777, tờ bản đồ số 10, diện tích 150m2 là di sản thừa kế của cụ Thi để ở. Quá trình sử dụng nhà đất, gia đình cụ M. tự ý sử dụng thêm căn gác 2 tầng và toàn bộ thửa đất. Năm 2020, ông H phá dỡ ngôi nhà ngói 5 gian, căn gác 2 tầng, sau đó xây mới nhà ở, không được sự đồng ý của các thừa kế của cụ Thi.

Toà án nhận định, bị đơn cho rằng cụ M. không thỏa thuận mượn nhà đất với cụ Hiến, mà được chia nhà đất trong cải cách ruộng đất. Tuy nhiên, tại Đơn ngày 15/3/1986 gửi UBND xã Hà Hồi, cụ M. đã trình bày gia đình anh ruột chồng cụ M. đi Nam, nên cho mẹ con cụ M. đến ở từ năm 1950. Cụ M. khai sau đó được chia nhà, đất khi cải cách ruộng đất và cho cụ M. tự báo, bảo quản. Tuy nhiên, Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 1/10/1984 của cụ M. không được Hội đồng đăng ký ruộng đất xã Hà Hồi xác nhận. Sổ mục kê năm 1984, cụ M. đứng tên sử dụng thửa đất số 531, diện tích 135m2 đất ở trong làng, nguồn gốc tự báo, mà không ghi được chia trong cải cách ruộng đất.

Theo Toà án, bị đơn cũng cho rằng nhà đất đang tranh chấp có nguồn gốc của người đi Nam đã bị Nhà nước quản lý từ năm 1974 và giao cho cụ M. quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không có văn bản quản lý nhà đất, không có văn bản bố trí cho cụ M. sử dụng nhà đất, không tiến hành các thủ tục để xác lập sở hữu toàn dân. Bị đơn không được ký hợp đồng thuê nhà, mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 1993 đến năm 2022, các cơ quan hành chính tỉnh Hà Tây và TP Hà Nội đều có các văn bản chỉ đạo trả nhà đất và hướng dẫn các bên liên quan gửi đơn đến Tòa án để được giải quyết vụ việc theo thẩm quyền.

Từ chứng cứ, tài liệu thu thập được và những phân tích, lập luận trên, kết quả, TAND khu vực 11 đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi nhà, đất cho ở nhờ đối với bị đơn. Công nhận nguyên đơn là những người thừa kế hợp pháp của cụ Đỗ Văn Thi, có quyền sở hữu 1 ngôi nhà ngói 5 gian, 1 căn gác 2 tầng (đã bị bị đơn phá dỡ năm 2020 để xây dựng 1 nhà 3 tầng, 2 nhà 1 tầng, 1 bể nước) và quyền sử dụng thửa đất số 777, tờ bản đồ số 10, diện tích 150m2, bản đồ địa chính năm 1940, nay thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3, diện tích 160m2, bản đồ địa chính năm 1994.

leftcenterrightdel
 Ngôi nhà 3 tầng xây dựng trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3 tại xóm Phạm Hồng Thái, xã Hồng Vân, TP Hà Nội.

Toà án sơ thẩm cũng buộc bị đơn và những người khác (nếu có) đang sinh sống tại 1 nhà 3 tầng, 2 nhà 1 tầng xây dựng trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3, diện tích 160m2, bản đồ địa chính năm 1994, mang biển số nhà 82, xóm Phạm Hồng Thái, xã Hồng Vân, TP Hà Nội phải di chuyển các tài sản thuộc sở hữu của mình để trả toàn bộ diện tích nhà, đất nêu trên cho phía nguyên đơn.

Đồng thời, phía nguyên đơn được sở hữu 1 nhà 3 tầng, 2 nhà 1 tầng, 1 bể nước do bị đơn xây dựng trên thửa đất số 230 nêu trên và có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (theo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 16/6/2026 kèm theo Bản án).

Toà án cấp sơ thẩm cũng ghi nhận việc bị đơn tự nguyện không yêu cầu phía nguyên đơn thanh toán một phần giá trị còn lại của 1 nhà 3 tầng, 2 nhà 1 tầng, 1 bể nước do bị đơn xây dựng; đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 500 triệu đồng do phá dỡ 1 ngôi nhà ngói 5 gian, 1 căn gác 2 tầng.

Trường hợp có tranh chấp về hợp đồng cho thuê nhà đối với diện tích nhà 1 tầng tại thửa đất số 230, tờ bản đồ số 3, diện tích 160m2 thì các đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác.

Tại phiên toà, đại diện VKSND khu vực 11, TP Hà Nội phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Thời hạn giải quyết vụ án kéo dài là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự…
P.V