leftcenterrightdel
Thông tư 89 với nhiều điểm mới nhằm hỗ trợ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Ảnh minh họa: Cục Thuế

Giảm tần suất kê khai, giảm hồ sơ phải cung cấp

Một trong những thay đổi đáng chú ý là bãi bỏ kỳ kê khai tháng đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ tiền lương, tiền công. Theo đó, tờ khai thuế TNCN áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công (mẫu số 05/KK-TNCN) và tờ khai áp dụng đối với cá nhân khai thuế trực tiếp với cơ quan Thuế (mẫu số 02/KK-TNCN) đều không còn kỳ kê khai tháng.

Theo đánh giá, việc giảm tần suất kê khai góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân.

Đối với hồ sơ quyết toán thuế TNCN, Thông tư cũng bãi bỏ thành phần hồ sơ đăng ký người phụ thuộc, thay bằng hồ sơ các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc theo quy định của pháp luật thuế TNCN.

 Để cơ quan Thuế và người nộp thuế nắm bắt kịp thời những quy định mới, chuẩn bị các điều kiện để bảo đảm triển khai thực hiện Thông tư số 89/2026/TT-BTC (Thông tư 89) của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, mới đây, Cục Thuế ban hành Công văn số 5746/CT-CS về việc giới thiệu nội dung mới tại.

Theo Cục Thuế, Thông tư 89 được Bộ Tài chính ban hành ngày 30/6/2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP. Thông tư đã cụ thể hóa loạt quy định đáng chú ý như: giảm tần suất kê khai thuế thu nhập cá nhân, không yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có, cho phép hệ thống hỗ trợ tạo lập tờ khai khi đủ dữ liệu, mở rộng giao dịch bằng tài khoản định danh điện tử và tăng tính tự động trong xử lý tiền thuế.

Đáng chú ý hơn, nguyên tắc khai và nộp hồ sơ thuế được điều chỉnh theo hướng tận dụng tối đa dữ liệu mà cơ quan Thuế đã có. Cụ thể, người nộp thuế không phải nộp lại các chứng từ, tài liệu đã có trong hồ sơ thuế; không phải khai lại những thông tin đã có trên Hệ thống thông tin quản lý thuế hoặc được cơ quan Thuế khai thác từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu do các bộ, ngành chia sẻ.

Đặc biệt, nếu hệ thống đã có đầy đủ thông tin, chứng từ làm căn cứ xác định số thuế hoặc khoản thu phải nộp, hệ thống có thể tự động tạo lập tờ khai thuế, hỗ trợ người nộp thuế trong quá trình khai và tính thuế.

Đây là bước chuyển đáng chú ý từ cách làm yêu cầu người nộp thuế liên tục cung cấp thông tin sang mô hình quản lý khai thác dữ liệu đã có. Khi dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả, người nộp thuế sẽ giảm đáng kể việc kê khai, cung cấp lại thông tin.

Thông tư cũng bổ sung quy định bảo đảm quyền lợi của người nộp thuế trong trường hợp phân bổ nghĩa vụ thuế. Nếu người nộp thuế đã nộp đầy đủ, đúng thời hạn nhưng chưa đúng địa bàn phân bổ thì không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế còn thiếu tại địa bàn nhận phân bổ.

Một điểm nhấn khác của Thông tư 89 là tiếp tục đẩy mạnh giao dịch điện tử trong quản lý thuế. Theo quy định mới, tài khoản giao dịch thuế điện tử có thể là tài khoản định danh điện tử theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử. Người nộp thuế thuộc đối tượng được cấp tài khoản định danh điện tử có thể sử dụng tài khoản này để giao dịch với cơ quan Thuế và cập nhật, thay đổi thông tin trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Đối với công dân Việt Nam, tài khoản định danh điện tử mức độ 02 được sử dụng theo quy định; người nước ngoài sử dụng tài khoản định danh điện tử theo quy định để thực hiện giao dịch với cơ quan Thuế…

Chuyển mạnh sang số hóa, kết nối và khai thác dữ liệu

Đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong quản lý thuế (T-VAN), Thông tư 89 cũng đơn giản hóa một số điều kiện, hồ sơ và quy trình kết nối.

Theo đó, thời gian chấp nhận hồ sơ đề nghị kết nối được rút từ 20 ngày xuống còn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Thời gian công bố công khai danh sách tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN cũng được rút từ 10 ngày xuống còn 5 ngày làm việc kể từ ngày ký biên bản kiểm tra kỹ thuật.

Đồng thời, cho phép một số doanh nghiệp, tổ chức đã cung cấp dịch vụ nhận, truyền, lưu trữ dữ liệu hóa đơn điện tử hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép kinh doanh dịch vụ tin cậy có thể kế thừa các điều kiện tương đồng khi đăng ký cung cấp dịch vụ T-VAN.

Quy định này giúp giảm hồ sơ, tài liệu phải cung cấp và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ thuận lợi hơn.

Cũng theo Cục Thuế, Thông tư 89 đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về khai thuế, hoàn thuế và xử lý tiền thuế nộp thừa theo hướng rõ hơn và tăng tính tự động.

Đối với khai thuế, Thông tư điều chỉnh các quy định về kỳ khai thuế, địa điểm nộp hồ sơ, phân bổ nghĩa vụ thuế và khai bổ sung hồ sơ khai thuế; đồng thời hướng dẫn một số tình huống phát sinh trên thực tế nhằm tạo sự thống nhất trong quá trình thực hiện.

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã khai thuế theo quy định tại Thông tư số 18/2026/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 50/2026/TT-BTC, hồ sơ khai bổ sung được xác định là hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót đã được bổ sung.

Trong hoàn thuế và xử lý tiền thuế nộp thừa, điểm đáng chú ý là cơ chế tự động bù trừ đích danh khoản phải nộp với khoản đã nộp trong trường hợp người nộp thuế thực hiện nộp thuế theo mã định danh khoản phải nộp (ID).

Với các khoản của cùng một người nộp thuế, cùng tiểu mục, cùng địa bàn hành chính và cùng cơ quan Thuế, hệ thống sẽ tự động bù trừ theo mã định danh khoản phải nộp.

Trường hợp người nộp thuế có khoản nộp thừa không có mã định danh nhưng cùng tiểu mục, cùng địa bàn và cùng cơ quan Thuế với khoản nợ, khoản thu phát sinh, hệ thống không tự động bù trừ. Người nộp thuế được lựa chọn khoản nộp thừa và hệ thống thực hiện bù trừ theo lựa chọn đó.

Những thay đổi trên cho thấy quản lý thuế đang chuyển mạnh sang số hóa, kết nối và khai thác dữ liệu, qua đó giảm yêu cầu cung cấp thông tin lặp lại, rút ngắn thời gian xử lý và tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế.

Theo công văn, Cục Thuế đề nghị các Thuế tỉnh, thành phố, Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn và Chi cục Thuế thương mại điện tử chủ động tuyên truyền, phổ biến những nội dung mới của Thông tư 89 tới công chức thuế và người nộp thuế; đồng thời chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để việc triển khai được thống nhất, kịp thời và hiệu quả.

 

M. Nhật