leftcenterrightdel
 Ban Chủ nhiệm đề tài chụp ảnh lưu niệm.

Thời gian qua, đề tài khoa học cấp tỉnh “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố Đồng Nai” do VKSND TP Đồng Nai là cơ quan chủ quản, TS Nguyễn Quốc Hân, Viện trưởng VKSND TP Đồng Nai làm Chủ nhiệm đã được nghiệm thu và đưa vào áp dụng trong thực tiễn.

Tại VKSND khu vực 13, TP Đồng Nai những kết quả nghiên cứu của đề tài đang được vận dụng vào cả công tác phòng ngừa lẫn hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

Đây là địa bàn biên giới, có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số khá lớn. Điều kiện địa lý, đời sống dân cư và khả năng tiếp cận thông tin pháp luật ở một số khu vực còn những khó khăn nhất định, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác bảo vệ trẻ em, nhất là trước nguy cơ xâm hại tình dục.

Qua thực tiễn, nhiều yếu tố được nhận diện có thể tác động đến tình trạng xâm hại tình dục trẻ em.

Trong đó, sự biến động về kinh tế - xã hội, nhu cầu lao động tự do ngày càng lớn, điều kiện sinh hoạt và quản lý trẻ tại một số gia đình còn hạn chế là những yếu tố cần được quan tâm.

Ở một số gia đình, nhận thức pháp luật còn hạn chế, cha mẹ bận mưu sinh nên chưa có nhiều thời gian theo sát con em. Đối với trẻ ở vùng sâu, vùng xa, nhất là học sinh người dân tộc thiểu số, những khó khăn về địa hình, giao thông và điều kiện tiếp cận các dịch vụ bảo vệ trẻ em cũng có thể làm gia tăng nguy cơ mất an toàn.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em ở một số nơi chưa được thực hiện thường xuyên; nội dung, hình thức tuyên truyền chưa thực sự phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Việc trang bị kỹ năng sống, kỹ năng nhận diện nguy cơ và tự bảo vệ cho trẻ em trong gia đình, nhà trường cũng cần tiếp tục được chú trọng.

Một nguy cơ khác đến từ môi trường mạng. Trẻ em sử dụng điện thoại thông minh, mạng xã hội ngày càng phổ biến, trong khi khả năng tự bảo vệ trên không gian mạng và sự giám sát của gia đình chưa phải lúc nào cũng theo kịp.

Thực tế cho thấy, một số vụ việc xâm hại xảy ra trong quan hệ gia đình, người quen hoặc bắt đầu từ môi trường mạng. Đối tượng có thể lợi dụng sự tin tưởng, lệ thuộc hoặc sự non nớt của trẻ để tiếp cận, dụ dỗ, thao túng.

Tâm lý sợ hãi, mặc cảm, lo bị kỳ thị cũng khiến một số trường hợp chậm được trình báo, từ đó ảnh hưởng đến khả năng phát hiện và ngăn chặn hành vi xâm hại.

Trong khi đó, nếu việc tiếp nhận, xử lý thông tin ban đầu chưa kịp thời, hành vi vi phạm có thể kéo dài mà không được phát hiện. Đây cũng là lý do công tác phát hiện sớm, tiếp nhận thông tin và phối hợp xử lý ngay từ cơ sở được VKSND khu vực 13 xác định là một trong những khâu cần đặc biệt quan tâm.

Đưa kết quả nghiên cứu vào phòng ngừa từ cơ sở

Để các giải pháp từ nghiên cứu khoa học thực sự trở thành công cụ hỗ trợ bảo vệ trẻ em, việc triển khai kết quả đề tài sau nghiệm thu được xác định là yêu cầu quan trọng.

Theo tài liệu, đề tài đã nghiên cứu tương đối toàn diện các phương thức, thủ đoạn của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; đồng thời đề xuất giải pháp tháo gỡ những khó khăn về pháp lý, quy trình lấy lời khai đối với trẻ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

leftcenterrightdel
 Hình ảnh tại một hội nghị tuyên truyền phòng chống xâm hại tình dục trẻ em của VKSND khu vực 13, TP Đồng Nai.

Đối với VKSND khu vực 13, đây là những nội dung có ý nghĩa trực tiếp bởi địa bàn biên giới luôn tiềm ẩn nguy cơ trẻ em bị xâm hại, không chỉ dưới hình thức trực tiếp mà cả hành vi dụ dỗ, bóc lột tình dục trên không gian mạng.

Vì vậy, việc chuyển hóa các kiến nghị, mô hình từ đề tài vào thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh với loại tội phạm này được đơn vị xác định là nhiệm vụ cần thực hiện thường xuyên, lâu dài.

Ngay sau khi đề tài được nghiệm thu và đưa vào áp dụng, VKSND khu vực 13 đã xây dựng kế hoạch triển khai, gắn kết các kết quả nghiên cứu với công tác chuyên môn và hoạt động tuyên truyền trên địa bàn.

Sau khi VKSND TP Đồng Nai xây dựng kế hoạch và ký quy chế phối hợp với các cơ quan liên quan của thành phố trong công tác phòng ngừa, tiếp nhận và giải quyết các vụ việc, vụ án xâm hại trẻ em, VKSND khu vực 13 cũng chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp với địa bàn.

Đến nay, đơn vị đã phối hợp với UBND các xã tổ chức 6 hội nghị tuyên truyền về các hành vi xâm hại trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em.

Cùng với tuyên truyền trực tiếp, VKSND khu vực 13, TP Đồng Nai còn ban hành kiến nghị đề nghị Chủ tịch UBND các xã trên địa bàn chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành chủ động phát hiện, phòng ngừa, kịp thời tiếp nhận và xử lý thông tin về hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

Nội dung kiến nghị cũng chú trọng việc tăng cường giáo dục giới tính, kỹ năng tự bảo vệ, nhận diện và phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh; phát hiện kịp thời những biểu hiện bất thường của trẻ để thông tin cho gia đình và cơ quan có thẩm quyền khi có dấu hiệu bị xâm hại.

Công tác tuyên truyền được định hướng theo hướng gần với đời sống hơn, không chỉ tổ chức thành các buổi phổ biến pháp luật riêng biệt mà còn lồng ghép vào sinh hoạt thôn, ấp, tổ dân phố, hoạt động ngoại khóa tại trường học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể.

Mục tiêu là giúp trẻ biết tự nhận diện nguy cơ, hình thành kỹ năng tự bảo vệ, đồng thời nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và chính quyền trong việc xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện cho trẻ em.

Từ những kiến nghị của VKSND khu vực 13, Chủ tịch UBND TP Đồng Nai đã có văn bản chỉ đạo Chủ tịch UBND các xã trên địa bàn khu vực yêu cầu các cơ quan, ban, ngành xây dựng và triển khai các giải pháp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em.

leftcenterrightdel
 Hình ảnh  tại một phiên tòa xét xử vụ án hiếp dâm trẻ em.

Chuẩn hóa quy trình tố tụng thân thiện với trẻ em

Không chỉ tập trung phòng ngừa, những kết quả nghiên cứu của đề tài còn được VKSND khu vực 13 vận dụng trực tiếp vào quá trình giải quyết các vụ án.

Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, xét xử, VKSND khu vực 13 đã phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết 5 vụ/5 bị cáo thuộc nhóm tội xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn.

Trong quá trình giải quyết, đơn vị từng bước chuẩn hóa quy trình tố tụng thân thiện theo mô hình của đề tài nghiên cứu, chú trọng cách thức lấy lời khai, thu thập chứng cứ theo hướng bảo mật, hạn chế tác động tiêu cực đối với trẻ.

Một trong những yêu cầu được chú trọng là bố trí không gian lấy lời khai phù hợp, sử dụng cán bộ có kinh nghiệm và kiến thức về tâm lý trẻ em, qua đó hạn chế nguy cơ trẻ phải chịu thêm những tác động tâm lý không cần thiết trong quá trình tham gia tố tụng.

Cùng với đó, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan được triển khai ngay từ thời điểm tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, nhằm rút ngắn thời gian xử lý, bảo đảm việc thu thập chứng cứ và bảo vệ trẻ được thực hiện kịp thời.

Đơn vị cũng chú trọng số hóa và ứng dụng công nghệ trong quản lý thông tin tội phạm, khai thác các giải pháp được đề xuất trong đề tài để lưu trữ, phân tích dữ liệu về những đối tượng có nguy cơ cao và địa bàn cần tập trung phòng ngừa.

Đối với môi trường mạng, yêu cầu đặt ra là tăng cường nhận diện, kiểm soát và ngăn chặn các hành vi dụ dỗ, bóc lột tình dục trẻ em; đồng thời nâng cao khả năng phòng vệ của trẻ và phụ huynh trước những phương thức tiếp cận ngày càng tinh vi.

Những nội dung nghiên cứu cũng được “bình dân hóa” thành tài liệu, cẩm nang ngắn gọn, infographic để dễ tiếp cận hơn thay vì chỉ tồn tại dưới dạng báo cáo khoa học.

VKSND khu vực 13 phối hợp với gia đình, nhà trường, tổ chức Đoàn tổ chức các buổi giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em, đồng thời hướng dẫn phụ huynh nhận biết những dấu hiệu bất thường có thể liên quan đến việc trẻ bị xâm hại.

Quá trình triển khai cho thấy, giá trị của một đề tài khoa học không chỉ nằm ở kết quả nghiệm thu mà còn ở khả năng chuyển hóa những kiến nghị, mô hình nghiên cứu thành giải pháp cụ thể trong công tác chuyên môn và đời sống xã hội.

Đối với VKSND khu vực 13, việc tiếp tục vận dụng kết quả đề tài là một trong những giải pháp hỗ trợ công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; đồng thời góp phần bảo vệ an toàn, sức khỏe, danh dự và sự phát triển lành mạnh của trẻ em trên địa bàn.

Hoạt động này cũng gắn với việc triển khai Luật Trẻ em; Nghị quyết số 121/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em; Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em và Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 7/1/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030.

Tại Đồng Nai, việc triển khai còn được cụ thể hóa thông qua Kế hoạch số 344-KH/TU ngày 22/4/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai về thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TW và Kế hoạch số 141/KH-UBND ngày 19/3/2026 của Chủ tịch UBND TP Đồng Nai về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trên địa bàn thành phố năm 2026.

Từ nghiên cứu khoa học đến các hoạt động tuyên truyền ở cơ sở, từ quy trình lấy lời khai đến phối hợp xử lý án, việc đưa đề tài vào thực tiễn đang giúp VKSND khu vực 13, TP Đồng Nai từng bước hình thành cách làm đồng bộ hơn trong phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em, hướng đến mục tiêu bảo vệ trẻ ngay từ khâu phòng ngừa và xuyên suốt quá trình tố tụng.

Văn Quang - Việt An