Năm học 2026-2027 là năm đầu tiên triển khai một bộ sách giáo khoa thống nhất trên toàn quốc theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW. Tuy nhiên, khi bước vào năm học mới, tại một số địa phương đã xảy ra tình trạng nhiều học sinh chưa có đủ sách giáo khoa.
Ngày 20/9, tại phiên giải trình do Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tổ chức, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhận trách nhiệm và cho biết Bộ nghiêm túc rút kinh nghiệm và sẽ giám sát kỹ, chặt chẽ việc lập kế hoạch, dự báo số lượng sách giáo khoa.
Bộ trưởng nhận trách nhiệm thể hiện tinh thần cầu thị của người đứng đầu ngành
    |
 |
| Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Quốc hội |
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng, việc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận trách nhiệm trước vấn đề này thể hiện tinh thần cầu thị của người đứng đầu ngành.
Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý nhà nước cần được đặt song song với trách nhiệm của đơn vị trực tiếp tổ chức sản xuất và cung ứng. Nhiều năm qua, việc cung ứng sách giáo khoa cơ bản được bảo đảm, vì vậy sự việc năm nay cần được nhìn nhận một cách đầy đủ, kể cả những yếu tố khách quan, nhưng đồng thời nhà xuất bản cũng phải nghiêm túc rà soát trách nhiệm và rút kinh nghiệm.
Theo Đại biểu, một trong những khâu cần được đặc biệt quan tâm là công tác lập kế hoạch, khảo sát và dự báo nhu cầu thị trường. Đây không chỉ là câu chuyện về số lượng sách cần in, mà còn liên quan đến phương pháp dự báo, khả năng cập nhật biến động và tổ chức sản xuất phù hợp với nhu cầu thực tế.
Điều quan trọng sau sự việc này không phải chỉ là xác định trách nhiệm thuộc về ai, mà là phải rà soát toàn bộ quá trình để nhận diện những điểm còn bất cập. Nếu có những hạn chế xuất phát từ cơ chế, quy định hoặc phương thức phối hợp giữa các bên chưa đầy đủ thì cần kịp thời kiến nghị điều chỉnh. Qua đó, các cơ quan quản lý và đơn vị thực hiện có đủ cơ sở, nguồn lực và điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ được giao, bảo đảm việc cung ứng sách giáo khoa ổn định, chủ động và đáp ứng yêu cầu ngay từ đầu năm học.
|
“Về lâu dài, tôi cho rằng cần nhìn sách giáo khoa như một sản phẩm thiết yếu đặc thù gắn với việc bảo đảm điều kiện học tập, chứ không thể quản lý hoàn toàn giống một mặt hàng thương mại thông thường. Khi Nhà nước đã quyết định thống nhất một bộ sách và đồng thời thực hiện chính sách hỗ trợ, tiến tới miễn phí sách giáo khoa, thì Nhà nước càng phải có cơ chế dự báo, đặt hàng, dự phòng và điều phối phù hợp.
Mục tiêu cuối cùng rất đơn giản, đó là ngày khai giảng, học sinh phải có sách để học. Muốn đạt được mục tiêu đó thì phải quản lý cả chuỗi cung ứng bằng dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng, chứ không thể đến sát ngày khai giảng mới yêu cầu tăng in, tăng vận chuyển và xử lý thiếu hụt”, Đại biểu Tú Anh chia sẻ thêm.
|
    |
 |
| Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành - Trưởng khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC |
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư Nguyễn Chí Thành cũng chia sẻ: "Tôi đánh giá cao thái độ trung thực và dám nhận trách nhiệm của Bộ trưởng.” Theo thầy Thành, đây là tinh thần cầu thị, rất cần có ở người đứng đầu.
| “Bối cảnh đã thay đổi căn bản: cả nước dùng một bộ sách giáo khoa thống nhất và một nhà xuất bản gần như gánh toàn bộ khâu in, phát hành. Vì vậy cần những giải pháp cụ thể, có lộ trình và sáng tạo hơn", Phó Giáo sư Nguyễn Chí Thành chia sẻ. |
Từ thực tế thiếu sách giáo khoa do khâu dự báo nhu cầu chưa chính xác, Phó Giáo sư Nguyễn Chí Thành cho rằng cần rà soát, điều chỉnh nhiều khâu trong việc khảo sát thị trường, lập kế hoạch và dự báo nhu cầu để hạn chế tình trạng tương tự trong những năm tới.
Trước hết, cần đổi mới khâu lập kế hoạch và điều tra nhu cầu từ cơ sở. Nhu cầu phải được tổng hợp từ dưới lên, từ từng trường và từng xã/phường đến tỉnh, có mốc thời gian chốt số liệu sớm và có cơ chế cập nhật.
“Năm nay, một số địa phương miễn phí sách giáo khoa khiến phụ huynh có tâm lý chưa mua, trong khi một số trường chưa đặt đủ số lượng để nhà xuất bản chủ động in. Điều đó cho thấy khâu phối hợp giữa chính sách địa phương và đơn đặt hàng còn đứt gãy”, thầy Thành nói.
Tiếp đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên để làm cơ sở dự báo, lập kế hoạch. Có thể kết nối cơ sở dữ liệu ngành, gồm số học sinh theo khối lớp, biến động tuyển sinh, di cư lao động, chính sách miễn/hỗ trợ sách giáo khoa của từng địa phương, với hệ thống đặt hàng và phân phối của nhà xuất bản.
Theo Phó Giáo sư Nguyễn Chí Thành, dự báo phải dựa trên dữ liệu thời gian thực, có tỉ lệ dự phòng hợp lý theo vùng, thay vì ước lượng theo kinh nghiệm của thời kỳ nhiều bộ sách.
Cùng với đó, cần đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để chủ động xây dựng và thiết kế học liệu, trong đó có các học liệu số.
“Khi giáo viên có năng lực khai thác chương trình và tự thiết kế học liệu, việc dạy học không bị lệ thuộc hoàn toàn vào cuốn sách giáo khoa giấy trong những thời điểm cung ứng gián đoạn. Các kho học liệu số của giáo viên nên được tham chiếu tới kho học liệu số có cấu trúc, có bản quyền, có tính kết nối.
Việc thiết kế học liệu số của giáo viên cho học sinh sử dụng cũng sẽ giúp phát triển năng lực số của người dạy và người học theo các Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT, Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ được ban hành gần đây”, Phó Giáo sư Nguyễn Chí Thành cho biết.
Theo thầy Thành, cần tăng cường tiềm lực cho thư viện trường học. Mỗi thư viện nên có tủ sách giáo khoa dùng chung, có cơ chế mượn, luân chuyển và tái sử dụng sách. Đây vừa là "vùng đệm" khi thiếu sách, vừa tiết kiệm cho xã hội.
Đồng thời, cần phát triển sách điện tử song hành với sách giáo khoa giấy. Theo thầy Thành, sách giáo khoa điện tử và học liệu số được phát triển từ chính bộ sách giáo khoa giấy, được cấp phép và miễn phí truy cập, sẽ bảo đảm học sinh luôn có sách để học ngay cả khi sách giấy chưa về kịp. Đây cũng là bước đi phù hợp với định hướng chuyển đổi số trong giáo dục.
Cần hoàn thiện cơ chế dự báo, chia sẻ dữ liệu và quản lý chuỗi cung ứng
    |
 |
| Tiến sĩ Phạm Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô. Ảnh: Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương |
Cùng chia sẻ về vấn đề này, Tiến sĩ Phạm Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô, đánh giá cao tinh thần cầu thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo Tiến sĩ Phạm Hiệp, tình trạng thiếu sách giáo khoa có nhiều nguyên nhân, trong đó công tác dự báo nhu cầu, cung ứng sách giáo khoa của nhà xuất bản chưa thực hiện tốt.
Bên cạnh đó, theo Tiến sĩ Phạm Hiệp, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đơn vị phải xây dựng kế hoạch sản xuất dựa trên sản lượng đặt hàng cụ thể, không thể tự in sẵn hàng chục triệu cuốn để tồn kho khi chưa xác định được nhu cầu.
“Việc thiếu sách giáo khoa cũng phản ánh sự chưa chủ động trong tổ chức dạy và học. Khi giáo viên và học sinh có đủ năng lực, học liệu và phương án hỗ trợ để chủ động trong quá trình dạy học thì việc thiếu sách giáo khoa trong một thời điểm nhất định sẽ không làm gián đoạn việc học”, Tiến sĩ Phạm Hiệp nói.
Theo Tiến sĩ Phạm Hiệp, để nâng cao tính chủ động trong cung ứng sách giáo khoa, cần hoàn thiện cơ chế dự báo, chia sẻ dữ liệu và quản lý chuỗi cung ứng. Dữ liệu về học sinh và nhu cầu sử dụng sách giáo khoa cần được liên thông giữa nhà trường, địa phương, cơ quan quản lý và nhà xuất bản.
Đồng thời, cần xây dựng các phương án dự phòng và cơ chế điều phối linh hoạt, qua đó bảo đảm nguồn cung sách giáo khoa chủ động, ổn định ngay từ đầu mỗi năm học.
Quy định cụ thể trách nhiệm giữa các bên
    |
 |
| Bà Tăng Thị Ngọc Mai - Đại biểu Quốc hội khóa XIV, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long). Ảnh: NVCC. |
Cùng trao đổi thêm về vấn đề này, bà Tăng Thị Ngọc Mai - Đại biểu Quốc hội khóa XIV, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long) cho rằng, để những năm học tiếp theo không xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bên, đồng thời có quy định rõ ràng về trách nhiệm trong việc dự báo nhu cầu sách giáo khoa, thay vì giao toàn bộ cho nhà xuất bản.
Việc dự báo phải bắt đầu từ trường học, địa phương, sau đó tổng hợp báo cáo lên Sở Giáo dục và Đào tạo để cung cấp số liệu cho nhà xuất bản. Nhà trường là nơi nắm sát nhất số lượng học sinh thực tế, trong khi Sở Giáo dục và Đào tạo có hệ thống dữ liệu về học sinh, giáo viên, kế hoạch giáo dục. Đây là những đầu mối quan trọng để tổng hợp và xác định nhu cầu sách giáo khoa của địa phương trước năm học mới tương đối chính xác. Bên cạnh đó, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của từng bên trong quá trình này. Trường học phải chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo; Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổng hợp, kiểm tra; nhà xuất bản căn cứ vào số liệu được cung cấp để tổ chức in ấn; đơn vị phát hành, phân phối chịu trách nhiệm về tiến độ đưa sách đến các trường đúng thời gian.
Khi xảy ra thiếu hụt, căn cứ vào trách nhiệm của từng khâu để xác định nguyên nhân và trách nhiệm cụ thể.
Cũng theo bà Tăng Thị Ngọc Mai, việc người đứng đầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ động nhận trách nhiệm trước những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý thể hiện tinh thần cầu thị và sự nghiêm túc trong công tác điều hành.
Việc này cũng cho thấy người đứng đầu sẵn sàng nhìn nhận những điểm còn hạn chế để từ đó rút kinh nghiệm, có những điều chỉnh phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện. Đây cũng là cách để các cơ quan quản lý nhìn lại những khâu còn chưa tốt và từng bước hoàn thiện công tác quản lý trong thời gian tới.