leftcenterrightdel
 Một công trường thi công hạ tầng tại tỉnh An Giang (ảnh minh họa).

Theo nội dung tài liệu, bộ chỉ số được xây dựng cho các tháng 7, 8, 9 và quý III/2026, với hai hệ thống so sánh theo năm gốc 2020 và năm gốc 2025.

Các chỉ số phản ánh biến động giá theo nhóm công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, hạ tầng kỹ thuật, nông nghiệp và môi trường.

Bộ tài liệu cũng công bố chỉ số giá phần xây dựng; chỉ số theo yếu tố chi phí gồm vật liệu, nhân công, máy thi công; cùng chỉ số giá một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu.

Đáng chú ý, các bảng chỉ số được xác định riêng cho hai khu vực là tỉnh An Giang trước sáp nhập và tỉnh Kiên Giang trước sáp nhập, nhằm phản ánh đặc điểm chi phí xây dựng tại từng khu vực.

Tại khu vực Kiên Giang trước sáp nhập, chỉ số giá xây dựng công trình đường bê tông nhựa quý III/2026 đạt 141,97% so với năm gốc 2020; công trình đường bê tông cốt thép đạt 151%; công trình cầu bê tông xi măng đạt 135,09%.

Đối với một số vật liệu xây dựng chủ yếu tại khu vực này, chỉ số giá cát đạt 164,36%, đá dăm đạt 267,09% và vật liệu san lấp đạt 173,59% so với năm gốc 2020.

Các chỉ số nêu trên là mức so sánh với năm gốc, không phải tỷ lệ tăng giá riêng trong quý III/2026.

Theo nội dung quyết định công bố, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng công trình tham khảo, sử dụng bộ chỉ số trong quá trình quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo quy định.

Việc công bố bộ chỉ số giá xây dựng tạo thêm cơ sở dữ liệu phục vụ xác định, rà soát chi phí xây dựng trong bối cảnh nhiều công trình, dự án đang triển khai trên địa bàn tỉnh.

Việt An